Thời gian dần trôi, những thuở ruộng bên kia làng bị chia cắt, bỏ hoang. Một số thì đã lên nền, đổ móng. Lúa không còn mọc ở đó nữa. Số mảnh đất được dùng làm ruộng cứ hao dần, hao dần khi người thành phố chuyển về quê để cất nhà và sinh sống. Giá đất tăng nhanh hơn giá gạo.
GẠO
TRẮNG VÀ SỔ ĐỎ
Truyện
ngắn của VÕ THỊ NHUNG QUỲNH (đường Bình Giã, phường Rạch Dừa,
TP.HCM)
Cha
tôi muốn bán ruộng! Ông ấy nói điều đó trong cuối một bữa cơm tối bình thường
như bao ngày khác. Chỉ có tiếng bát đũa lách cách khô khan. Cha đặt bát xuống,
dưới đáy bát vẫn còn những hạt cơm trắng. Ông nhìn vào những vết nứt trên bàn gỗ
và nói chậm rãi, dường như ông đã suy nghĩ từ rất lâu: “Bán đi, giữ lại cũng chẳng
có ích lợi gì, hơn nữa… giá đất đang lên cao lắm”
Tôi
nhìn cha, cha chỉ nhìn vào bát cơm trắng dang dở trên bàn một cách điềm tĩnh
trước khi ánh mắt lại quay về với vết nứt trên chiếc bàn gỗ đã cũ. Lưng cha
còng xuống, bàn tay gầy guộc vương đầy dấu vết của một người đàn ông cả đời chỉ
biết cúi mặt xuống đất để rồi khi ngẩng lên, tóc đã trắng như bông cỏ may cuối
mùa. Hơn nửa đời người lam lũ với cánh đồng, nghĩ đến chuyện bán ruộng làm sao
mà không đau cho được. Mẹ cũng không nói gì, bà chỉ im lặng gom những hạt cơm
rơi vãi trên bàn bằng bàn tay run run, có lẽ bà cũng đã nghĩ đến chuyện này. Tôi
chợt nhớ lời mẹ từng dặn năm xưa: “Đất trời nuôi gạo, gạo nuôi người, con ạ. Đừng
bỏ thừa cơm, tội gạo, tội trời đất con ạ”
Thật
ra, mảnh ruộng mà cha mẹ tôi muốn bán đi là mảnh ruộng duy nhất của gia đình
chúng tôi. Nó không có giá trị quá cao so với những mảnh ruộng khác của làng
xóm láng giềng. Đất nhà tôi xấu. Nó lọt thỏm ở nơi rìa làng, lại là chỗ trũng
nên năm nào cũng hứng đủ nước lũ. Lúa thì lép hạt, chẳng so được với lúa nhà
người. Cha mẹ tôi đã dành hơn nửa đời để nuôi hy vọng vào mỗi mùa gặt. Nhưng mảnh
ruộng đó vốn dĩ còn lớn tuổi hơn cả bố tôi, thửa đất đó đồng hành cùng ông nội
từ lâu rồi, từ cái thời ông nội của tôi còn trẻ cho đến cái thời mà ông nội tôi
không thể ra ruộng được nữa. Ông nội từng nói: “Thuở khó khăn, mảnh ruộng này
là nơi đơm kết ra những hạt ngọc quý cho chúng ta, nuôi dưỡng từng thế hệ. Ruộng
này tuy khó để chăm lúa nhưng không thể cứ thế mà bỏ đi được”. Đó là lý do vì
sao mảnh ruộng đó vẫn ở đây, từ đời ông cho đến đời cha tôi, và cho ra những hạt
lúa, hạt gạo quý báu. Ông tôi và cha tôi, cũng như bao người nông dân khác, đã
luôn cặm cụi làm lụng vất vả trên mảnh ruộng của họ
Tôi
cũng thế, tôi cũng đã lớn lên từ sự nuôi dưỡng của những hạt cơm nấu bằng gạo của
mảnh ruộng đó
Nhưng
mỗi thời một khác, người trẻ trong làng dần dần lũ lượt kéo nhau lên thành phố
phồn hoa. Làng thiếu trẻ, dư già. Lứa trẻ để phụ giúp, gánh vác chuyện đồng áng
càng ít đi theo thời gian trong khi người ở lại trong làng thì càng lớn tuổi. Người
ta càng khó có thể chăm lo cho sức khỏe bản thân chứ huống chi ra đồng chăm sóc
cho mùa vụ. Thời gian dần trôi, những thuở ruộng bên kia làng bị chia cắt, bỏ
hoang. Một số thì đã lên nền, đổ móng. Lúa không còn mọc ở đó nữa. Số mảnh đất
được dùng làm ruộng cứ hao dần, hao dần khi người thành phố chuyển về quê để cất
nhà và sinh sống. Giá đất tăng nhanh hơn giá gạo. Một vụ lúa vất vả, nhọc nhằn
với gió sương, đếm từng năm từng tháng không còn so nổi với con dấu mộc đóng
vào sổ đỏ trong vài ngày
Cha
tôi hiểu điều đó, mẹ tôi cũng thế, họ nhận ra rõ sự chênh lệch kinh tế và câu
chuyện ‘vật giá leo thang’. Họ không dám mơ việc giữ lại ruộng đồng như một người
bạn đồng hành và tiếp tục làm lụng có thể giúp con người ta có cuộc sống no đủ ở
hiện thực. Làm ruộng không bằng bán đất khi giá còn cao. Cha tôi chậm rãi nói, dường
như ông cũng đang tự thuyết phục bản thân từ bỏ: “Ruộng không nuôi nổi người nữa,
làm ruộng vẫn cực khổ nhưng không còn đủ sống nữa. Chi bằng nhân lúc giá vẫn
còn cao, chúng ta bán đất đi, cha mẹ đỡ khổ, con cũng bớt lo. Nếu gom góp được
thêm chút tiền, chúng ta có thể chuyển lên thành phố sinh sống rồi kiếm việc
làm”. Ánh mắt của cha vẫn chăm chăm nhìn ra cánh đồng bên ngoài mà tay thì vân
vê mép áo đã sờn rách
Đó
là hiện thực. Tôi hiểu, chỉ là không trả lời, chỉ lắng nghe và suy ngẫm lời của
cha. Gió bên ngoài cửa nhà lùa vào gian nhà nhỏ, chỉ có tiếng dế và nhái kêu
vang trong không gian tĩnh mịch. Cánh đồng lúa im lìm như thể nó đã lắng nghe tất
cả và giao quyền quyết định số phận vào tay của những người thân yêu.
Ăn
cơm xong, dọn dẹp phụ cho mẹ, tôi rảo bước ra ruộng một mình. Mùa gặt sắp đến.
Đương giữa tháng, trăng rất sáng, rõ vành vạch, treo trên cao như những cái
bóng đèn ở thành phố lớn hoa lệ mà tôi từng thấy trên tivi. Ánh sáng của trăng
như phủ một tấm lụa bạc mềm mại và kiêu sa xuống trời đất, xuống những bông lúa
đang trổ đòng. Lúa đang ở trong giai đoạn chưa chín vàng nhưng cũng không còn
xanh non nữa. Ánh trăng bạc khiến tôi có thể thấy màu vàng nhạt lờ mờ xen với sắc
xanh nhạt. Gió thổi nhè nhẹ khiến những bông lúa chuyển mình qua lại. Xào xạc.
Xào xạc. Gió đưa mùi lúa thoang thoảng xen với mùi đất ẩm phủ khắp không gian. Mảnh
đất này chẳng bao giờ thay đổi, nó vẫn quen thuộc như vậy.
Tôi
lại nhớ về ông nội.
Ông
nội tôi là một người cần mẫn. Có thể nói, ông là minh chứng rõ ràng nhất cho một
con người đã dành cả đời để gắn bó với đồng lúa ngay cả sớm tối và nắng mưa.
Ông yêu cánh đồng lúa này lắm. Thuở tôi còn nhỏ, tôi thường đi cùng ông ra đồng,
tôi vẫn nhớ lời dạy bảo của ông: “Đất này vốn dĩ là của ông bà, tổ tiên để lại,
mồ hôi của nhà ta thấm xuống đây cũng đủ làm ướt cả cánh đồng này rồi con ạ.
Yêu quê hương…”. Ông ngừng lại một chút, bàn tay vuốt ve những bông lúa đang
trong giai đoạn trổ đòng. Ông tôi tiếp tục nói: “… là yêu cái mùi cơm thơm mỗi
chiều, yêu cái lúc lúa trổ đòng thơm mùi sữa…”
Nhưng
năm ấy, ông mất vào đúng mùa gặt. Tôi nhớ rõ… Hôm đó, ông vẫn ra ruộng từ buổi
sớm-khi gà chỉ vừa cất tiếng gáy đầu tiên từ xa. Ông không mang theo liềm, ông
chỉ ra ruộng, đứng lặng lẽ ở đó, giữa những bông lúa vàng đã trĩu nặng hạt. Ông
vuốt dọc tay theo hướng cong cong của lúa, nhìn rất lâu rồi buông ra. Chiều hôm
đó, ông đã nằm xuống, lặng lẽ, im lìm như cách lúa chín rời khỏi thân cây.
Cụ
nhà hàng xóm chỉ khẽ bảo: “Lúa đã chín rồi, đẹp lắm, nhưng không thấy người.”
Câu
nói ấy đã ở lại trong trí nhớ của tôi. Tôi cũng nhớ. Tối hôm đó, mẹ tôi đã nấu
một nồi cơm đầy. Bà đã xới riêng một bát, đầy cơm và đặt lên bàn thờ của ông nội.
Khói nóng từ cơm chín bốc lên rồi mờ dần rồi nguội hẳn, bát cơm vẫn nằm ở đó.
Không ai ăn mà cũng chẳng ai dọn. Tôi đã hỏi mẹ rằng cơm đã nguôi rồi sao mẹ
không cất đi. Mẹ chỉ đốt thêm một nén hương sau đó khẽ nói với tôi: “Ông của
con đã sống lam lũ với ruộng đồng. Cả cuộc đời làm ra gạo nếu không phải vì gia
đình no đủ thì cũng là để người khác có cuộc sống không bị thiếu ăn. Là người
nông dân thì không có nghĩa là ông sẽ luôn ăn bát cơm đầy. Để ở đó cho người
còn sống nhìn vào mà nhớ”.
Khi
đó, tôi không hiểu câu nói của mẹ. Nhưng khi đứng trước ruộng, khi ký ức ùa về,
lời nói của mẹ đã nhắc cho chúng tôi nhớ rằng mỗi bữa ăn đầy không chỉ là vì ơn
của trời, ơn của đất mà còn là ơn cho những người nông dân lặng lẽ đã dành trọn
cuộc đời của họ cho những mùa gặt không kịp ăn.
Buổi
sáng của ngày hôm sau, bữa cơm sáng diễn ra trong im lặng. Cha tôi nhắc lại
chuyện bán ruộng. Mẹ của tôi vẫn giữ im lặng. Thật ra, cả cha và mẹ đều hiểu
cái cực của việc làm nông và sự khó nhọc trong việc trang trải cuộc sống nhưng
họ hiểu nỗi đau nếu phải từ bỏ mảnh đất này-mảnh đất đã nuôi dưỡng họ lớn lên từng
ngày đêm và mưa nắng. Trưa hôm đó, cha rảo bước ra ruộng, tôi lẽo đẽo theo sau.
Cha nhìn những bông lúa rung nhè nhẹ trong gió. Lúa chưa chín hẳn nhưng cũng
không còn non nữa. Những bông lúa chuyển màu vàng nhàn nhạt, lấp lánh dưới ánh
nắng và dập dờn như sóng trước gió.
Cha
tôi bỗng nhiên nói: “Người trồng lúa vất vả quanh năm, lam lũ cả đời nhưng
không phải lúc nào họ cũng no đủ. Con nghĩ xem, tại sao người ta lại trồng lúa?”.
Tôi lắc đầu. Tiếng của ông trầm xuống khi ông nói tiếp: “Ông nội của con cũng từng
hỏi cha như vậy, nhưng cha cũng không trả lời được. Nhưng ông nội của con đã
nói, người trồng lúa có thể sẽ không đủ no nhưng họ vẫn trồng, vì nếu không trồng
thì sẽ có ai khác bị đói.” Cha nhìn những bông lúa nghiêng theo gió rất lâu. Tôi
đứng sau lưng cha, bỗng thấy cánh đồng rộng hơn mọi ngày
Cha
chậm rãi nói: “Hạt gạo không chỉ nuôi sống người làm ra nó mà còn nuôi sống nhiều
người khác dẫu có lạ hay quen… Lúa gạo nó có tình, con ạ. Mình ăn rồi thì cũng
phải nghĩ tới người khác. Nếu ai cũng bỏ ruộng, thì lấy gì đổ vào bát cho những
người chưa từng biết mặt”. Sau đó, cha đã im lặng và nhìn về xa xăm, dường như
trong lúc dạy bảo tôi, chính ông ấy cũng đã ngộ ra điều gì đó.
Tối
hôm đó, cha tôi đã không nhắc lại chuyện bán ruộng nữa
Vài
ngày sau đó, người mua đất đến, với bộ quần áo sang trọng và đôi giày da bóng lộn.
Như thường lệ, họ lại đề cập đến việc mua mảnh đất ở rìa của ngôi làng-mảnh đất
của chúng tôi. Họ nói về dự án, về lợi nhuận, về tiền bạc, về một tương lai hứa
hẹn khi chúng tôi ký vào giấy và chuyển vào thành phố. Lần này khác. Lần này
thì cha nhìn xuống bàn tay dính đầy phèn và bùn của chính ông rất lâu. Ông chà
nhẹ bàn tay vào ống quần đầy vải vá rồi buông xuống. Ánh mắt của cha lại nhìn
ra cánh đồng xào xạc ở xa. Hôm đó, cha tôi chỉ lắng nghe, gật đầu nhưng ông ấy
từ chối ký giấy.
Mùa gặt năm ấy, vẫn như thường lệ, lúa không nhiều nhưng hạt thì chắc mẩy. Mẹ nấu cơm, nồi cơm thơm phức mùi gạo mới. Tôi cẩn thận xới cơm cho cha, cho mẹ và cho mình. Cơm trắng. Nóng. Cha tôi bưng bát cơm bằng đôi bàn tay còn vương mùi đất, hít một hơi thật sâu cái mùi đặc trưng của lúa mới. Ngoài kia, gió thổi qua ruộng lúa. Xào xạc. Xào xạc.


