Những rẫy lúa cheo leo. Vắt ngang lưng trời là những rẫy lúa, những bông lúa uốn cong trĩu nặng. Những rẫy lúa trên những vách núi bên đèo có cái tên là Dốc Chó, nơi giáp ranh giữa Con Cuông và Tương Dương khiến phải nửa cổ nhìn lên.
NHỮNG MÙA NƯƠNG ĐÃ XA
NGUYỄN NGỌC LỢI (Khối 10, Cầu
Giát, Quỳnh Lưu, Nghệ An)
Miền Tây xứ Nghệ thật đẹp khi vào
tiết cuối thu. Giữa thời khắc giao mùa núi rừng như thêu hoa dệt gấm. Khi mùa
lũ đã đi qua, giòng nước thu mình, mặt sông rì rào qua gành đá, suối róc rách
liu riu. Ấy là lúc sắc màu lên tiếng. Màu xanh đậm, vàng nghệ vàng mơ của lá
già chưa kịp rụng. Màu tím của những loài thay lá sớm. Màu bàng bạc của cây hoa
ban và xạc xào trên những vạt lau dọc đường số 7 lên biên giới.
`Dưới sắc nắng hanh vàng, mọi sắc
màu trở nên mờ ảo lung linh. Lúc này cũng là lúc lúa trên rẫy đã chín. Không
gian núi rừng phảng phất mùi lúa mới, là mùi nắng mùi gió mùi sương, mùi của
tro than, và mùi của mồ hôi người sau bao ngày phơi lưng, cúi mặt trên sườn núi.
Những rẫy lúa ngang trời có sắc vàng mơ góp thêm sắc màu cho núi rừng thêm phần
rực rỡ. Những rẫy lúa kia, để có nó người vùng cao đã đổ biết bao mồ hôi. Phát,
đốt, dọn, trỉa.
Công đoạn nào cũng vất vả cực nhọc.
Phát phải phát kĩ, phát sạch cây bụi, dây leo phía dưới. Cây thấp phát trước,
cây to chặt sau và đẵn ngắn cành ngọn cho chóng khô. Rẫy phải phát vào mùa nắng.
Chờ cho thật khô nỏ mới chọn hướng gió châm lửa đốt. Chờ cho rẫy nguội, tro
than tắt hết, lúc đó mới dọn dẹp,. Gom những đoạn cành ngọn chưa cháy hết đốt
tiếp. Cây to không cháy hết mang vác dẹp quanh bờ làm hàng rào chống trâu bò. Và
chờ mưa. Mưa xuống ẩm đất mới chọc lỗ tra hạt. Thế rồi chờ lúa mọc, lúa lên
ngang bắp chân lại lên rẫy chặt chồi, dẫy cỏ, mong mưa, chờ lúa trỗ, chờ lúa
chín. Bao sự lo chờ, phập phồng. Ngày ngày phải đi canh rẫy canh chim canh thú,
canh trâu bò phá lúa.
Những năm mưa thuận gió hoà, rẫy
được mùa. Cả một vùng rực vàng màu lúa chín. Lúc này chim rừng ríu rít, khí trời
mát mẻ có phần se lạnh. Ấy là đã vào mùa thu hoạch. Nhà nhà sắm sửa dao cắt,
gùi mang. Bản làng rộn rịch như có hội. Nhà nhà vào rẫy, người già, trẻ con
cũng bỏ học kéo nhau vào rẫy… Chòi kho được dựng, bếp nấu được nhóm lên. Người
lớn cắm cúi cắt lúa. Trẻ con đứa lớn cũng cắt lúa, đứa nhỏ bắn chim, bẫy chuột..Tiếng
nói tiếng cười vang rộn cả một vùng.
Gặp năm nắng hạn, lúa chết khô
xác trên nương. Mồ hôi công sức theo gió bay đi. Ông trời đã cướp công của họ.
Ngày ngày đàn bà phải vào rừng đào củ mài, hái rau, kiếm nấm, đàn ông chặt gỗ
chặt tre kiếm tiền mua gạo lần hồi, chờ mùa rẫy năm sau.
Người viết bài này từng ngẩn ngơ
trước những rẫy lúa thơm. Những rẫy lúa cheo leo. Vắt ngang lưng trời là những
rẫy lúa, những bông lúa uốn cong trĩu nặng. Những rẫy lúa trên những vách núi
bên đèo có cái tên là Dốc Chó, nơi giáp ranh giữa Con Cuông và Tương Dương khiến
phải nửa cổ nhìn lên. Đi lên nữa, chỗ dốc Tam Đình, Tương Dương, dọc hai bên đường
cũng là những rẫy lúa. Và lên nữa, xa xa, lẫn trong mây mù xa tít, những rẫy
lúa vàng chen chúc giữa màu xanh của núi của rừng.
Lần đó tôi cùng mấy nhà văn Nghệ
An lên vùng cao, huyện cũ Tương Dương gọi là đi thâm nhập. Bí thư Huyện là một
người Thái, anh Lữ Kim Duyên tiếp chúng tôi trên tầng hai của một ngôi nhà nhạt
màu sơn, ép bên hữu ngạn sông Nặm Nơn. Anh hào hứng giới thiệu huyện đang được
hưởng một dự án lớn. Dự án có tên "An toàn lương thực Xiềng My". Tên
dự án nghe thật hấp dẫn và gây tò mò. Hoá ra việc phá rừng làm rẫy, cái sự
" lợi bất cập hại" này đã là nỗi trăn trở của các anh, những người
lãnh đạo của địa bàn vùng cao này.
Sáng hôm sau chúng tôi được cán bộ
văn phòng Huyện uỷ dẫn đường vào Xiềng My. Chánh văn phòng là Vi Hợi, anh cũng
là người Thái, Tương Dương, người sau này cũng là một nhà văn viết rất hay về
miền núi. Chiếc xe U Oát cũ kĩ đưa chúng tôi qua sông Nặm Nơn trên chiếc cầu
treo do dân góp tiền bắc lên, tiến sâu vào vùng núi mạn đông bắc huyện.
Dạo đó sông Nặm Nơn chưa bị chặn
giòng làm thủy điện. Xe bám dọc tả ngạn cạnh bên giòng chảy sâu hút, và bên
kia, phía hữu ngạn kéo dài hàng cây số là những mái núi vừa bị đốt đen sì tro
than chờ ngày tra hạt. Hết địa phận xã Hữu Dương xe ngoặt phải và nhảy chồm chồm
lắc lư trên những đoạn đường chằng chịt rễ cây, đất đá vương vãi, nham nhở những
hố khai thác vàng ở các xã Yên Na, Yên Hoà…
Đang là mùa trỉa rẫy, dọc đường
là những sườn rẫy mới đốt dốc ngược, đen nhẻm tro than. Những người đàn bà váy
áo bệch bạc hông đeo giỏ hạt giống, tay cầm nọc dài bám dốc ngược lên kiên nhẫn
chọc lỗ dưới cái nắng trưa hè. Dọc đường vào Xiềng My vẫn những ngọn núi bị cạo
trọc trơ giữa những vùng rừng xơ xác. Xa gần rải rác vẫn còn những đụn khói bay
lên như nhắc nhớ một điều gì đó… Để có được những hạt gạo người ta đã phá đi
hàng ngàn éc ta rừng, bỏ đi hàng vạn khối gỗ. Biết là vậy nhưng không thể khác.
Trên xe, Vi Hợi nói lên băn khoăn
của anh. Có một giải pháp huyện đang tích cực thực hiện. Đó là vận động bà con
trồng luồng trên những diện tích đất xấu do phát nương nhiều lần. Số luồng trồng
được đã tới cả vạn gốc. Lúc này, được tiếp nhận dự án như nắng hạn gặp mưa rào.
Huyện đang rất hào hứng triển khai thực hiện. Chuyện trò sôi nổi khiến chúng
tôi quên cả thời gian. Trời đã sang chiều. Nắng đã nhạt trên lá rừng, nhạt trên
những mái nhà sàn thấp thoáng xa xa.
Chúng tôi tiếp tục đi qua những bản
Thái sát bên đường. Những nếp nhà sàn gỗ vững chãi quây quần. Trên chạn trước
nhà là những người đàn bà Thái thịt da căng đỏ với váy áo thổ cẩm, người bên
khung dệt, người ngồi thõng chân nói lời chào hỏi vồn vã thân tình. Cuộc sống nơi
vùng sâu này thật quá yên bình.
Vậy là đã vào đến địa phận xã Yên
Hoà. Yên Hòa là quê của Lô Tiến, anh bạn người Thái cùng lớp chuyên tu học ở
Vinh hơn hai mươi năm trước. Đời sống lúc đó còn vô cùng khó khăn. Giáo viên xa
nhà đi học còn khó khăn hơn do đã lớn tuổi, lương thực khan hiếm, tiêu chuẩn nhận
hàng tháng toàn bo bo. Vì vậy, muốn về thăm nhà, phải đi hơn hai trăm cây số từ
Vinh lên. Phương tiện đi lại ít, đường sá đèo dốc ngoằn ngoèo, xuống xe ở Hoà
Bình còn phải đi bộ mấy chục cây số nữa, ấy vậy mà Tiến vẫn về. Về rồi lại phải
xuống, chuyến đi bộ xuyên rừng, chuyến chặt nứa đóng chiếc bè nhỏ theo sông Nặm
Nơn xuôi ra Hòa bình mua vé xe khách về Vinh.
Mỗi lần như thế Tiến xách xuống
mươi lăm cân nếp rẫy. Chao ôi, mừng sao mà mừng.. Những hạt nếp to lườu lười
như hạt dưa gang, giã chưa kỹ, cho thứ xôi trông như rời mà dẻo quánh, thơm lừng.
Rồi Tiến nói về việc phát rẫy, việc đốt việc dọn. Tiến nói về mùa lúa chín, nói
về việc canh rẫy đuổi chuột đuổi chim rừng. Tiến nói về vùng rẫy đêm về, lửa từ
các chòi canh trên lưng núi xa gần nhấp nháy như sao. Tiếng hú tiếng gọi nhau vọng
qua các vách núi, vọng qua các nương lúa bạt ngàn, mênh mông chìm trong sương
đêm, nghe như từ trời rơi xuống...
Tôi cứ miên man thế, trời đã tối
từ lúc nào. Ánh đèn le lói từ những bản xa. Chưa có điện lưới, vùng cao chìm
trong màn đêm. Bản đầu tiên của Xiềng My đón chúng tôi bằng những ánh đuốc và
những nếp nhà sàn đang được dỡ xuống, cột kèo ngổn ngang trên những bãi cỏ. Mệt
mỏi ngồi chờ, lúc lâu sau chúng tôi mới được ăn. Vi Hợi nói, vùng sâu xa chợ
búa, các anh thông cảm cho. Dân bản thịt một con lợn nít. Thịt, lòng đều luộc,
thái bày trên lá chuối rất ngon, ngon miệng cũng vì quá đói nữa. Ăn xong, cũng
vừa lúc các chị từ mấy bản xa đốt đuốc rồng rắn kéo về đón khách.
Thế rồi "lăm vông". Lu
rượu cần đặt trên nền đất một gian nhà bỏ trống. Chủ khách vòng quanh dập dìu.
Lần đầu tôi nhập vào vòng múa. Không thể không múa trước sự chào mời của một cô
gái kiên nhẫn chắp tay chờ rất lâu. Điệu múa thật lạ, nhập cuộc một lúc khiến
tôi như say. Tôi bị cuốn đi theo mỗi vòng xoay mê mải. Tôi không nhớ đêm đó
mình ngủ thế nào. Trên sàn trống trải của một ngôi nhà hay vạ vật góc nào.
Xiềng My với những bản Thái tải
rác trong một thung lũng rộng và bằng phẳng..Bản nào nhà cửa cũng to cao, vững
chãi vì vùng này rất nhiều gỗ. Sáng ra chúng tôi gặp những nếp nhà đã dỡ chuẩn
bị di dời. Cột kèo rui mè ngẩn ngang từng đống lớn. Những nền đất vương vãi đồ
rách, những gùi rách, rổ rá rách, và những hố cột sâu vừa đào. Việc di dời, trả
lại mặt bằng cho dự án đang rất khẩn trương.
Vi Hợi cho biết, các bản sẽ định
cư sát chân núi bao quanh. Mặt bằng có diện tích 100 éc ta này sẽ được cải tạo
thành cánh đồng lúa nước một năm hai vụ. Để cấp nước cho cánh đồng đã có một đập
nước gần đó. Và sản lượng từ cánh đồng này, cùng sản lượng từ những khu ruộng
ngoài Tam Đình, Tam Thái sẽ đảm bảo phần quan trọng về lương thực cho Tương
Dương. Hạn chế dần nạn phá rừng đốt nương của bà con.
Khi tôi viết những dòng này thì rừng
núi Tương Dương đã xanh mướt nhiều năm, không còn như chiếc áo vá loang lổ vì
những vùng rẫy nữa. Đã nhiều năm nay đời sống vùng cao đã ổn định nhờ " vựa
lúa nhỏ" Xiềng My, nhờ lượng lương thực dồi dào của cả nước được lưu thông
thuận tiện. Tương Dương đang đà phát triển. Huyện vùng cao này đang thay đổi từng
ngày. Mới đây, khi nghe tôi hỏi, Vi Hợi, nguyên là phó chủ tịch Huyện sau năm
đó, và hiện tại anh đã nghỉ hưu, rất chăm chỉ viết văn đã nhắn xuống trả lời.
Cánh đồng Xiềng My tốt lắm. Ngoài hai vụ lúa mỗi năm bà con còn làm thêm một vụ
màu, ngô khoai đậu đỗ. Xiềng My đã khác lắm rồi, đường vào đã là đường nhựa, đường
bê tông. Nhà cửa được làm mới khang trang hơn nhiều. Có dịp mời anh lên thăm.
Chao ôi, nhớ lắm. Nhớ những mùa nương đã xa, đã lùi rất xa. Tôi hình dung đồng lúa nước Xiềng My. Hình dung ra vựa lúa nước nơi vùng sâu ngày ấy mà nay đã rất gần. Vậy là cây lúa nước đã cho người dân Tương Dương no ấm, và cho vùng cao Tương Dương xanh núi xanh rừng./.


