Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao đang tạo vùng sản xuất xanh, giảm phát thải, nâng giá trị gạo Việt trên thương trường quốc tế.

Vùng sản xuất xanh mở đường cho hạt gạo Việt Nam phát triển bền vững

Từ những cánh đồng lúa trải dài ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một cuộc chuyển đổi mang tính cách mạng đang diễn ra. Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030 chính là nền tảng cho quá trình chuyển đổi ấy.

Ông Nguyễn Đức Thịnh, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp & môi trường tỉnh Đồng Tháp phát động vùng sản xuất xanh 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại Đồng tháp đầu tháng 6. Ảnh: Văn Kim Khanh

Theo ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA), vùng sản xuất thuộc Đề án 1 triệu ha không chỉ là khu vực có diện tích lớn mà được xác định rõ ràng trên bản đồ sinh thái của ĐBSCL.

Các địa phương đã rà soát, quy hoạch và phân vùng theo đặc điểm tự nhiên để lựa chọn mô hình phù hợp. Vùng thượng nguồn gồm Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang; vùng giữa ĐBSCL gồm TP. Cần Thơ và Vĩnh Long; vùng ven biển gồm Sóc Trăng và Trà Vinh cũ. Mỗi khu vực được thiết kế giải pháp kỹ thuật riêng nhằm phát huy lợi thế sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo ông Lê Thanh Tùng, mục tiêu đến năm 2030 là hình thành vùng chuyên canh quy mô 1 triệu ha với sự tham gia của khoảng 1 triệu hộ nông dân trong chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp.

Xây dựng “danh tính xanh” cho hạt gạo Việt

Điểm khác biệt của vùng sản xuất thuộc Đề án là toàn bộ quy trình canh tác phải đáp ứng các tiêu chuẩn xanh nghiêm ngặt.

TS. Nguyễn Văn Hùng, chuyên viên cao cấp Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế IRRI thuyết minh về vùng sản xuất xanh ở Đồng Tháp. Ảnh: Văn Kim Khanh

Nông dân tham gia mô hình phải giảm lượng giống gieo sạ xuống còn khoảng 60-70 kg/ha thay vì 120-150 kg/ha như trước đây. Lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật được cắt giảm từ 30-50%, góp phần giảm chi phí sản xuất và hạn chế tác động đến môi trường.

Một yêu cầu quan trọng khác là áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD). Phương pháp này giúp tiết kiệm từ 30-40% lượng nước tưới, đồng thời giảm đáng kể lượng khí mê-tan phát sinh từ ruộng lúa.

Đặc biệt, 100% rơm rạ sau thu hoạch phải được thu gom để tái sử dụng làm phân hữu cơ, thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu sản xuất khác. Việc chấm dứt đốt rơm ngoài đồng không chỉ giảm ô nhiễm môi trường mà còn cắt giảm đáng kể phát thải khí nhà kính.

Theo các chuyên gia, chính những yêu cầu này đang tạo nên “danh tính xanh” cho hạt gạo Việt Nam, đáp ứng xu hướng tiêu dùng bền vững của thế giới.

Công nghệ số trở thành “trợ lý” của nông dân

Một trong những điểm đột phá của Đề án là ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất.

TS. Nguyễn Văn Hùng, chuyên viên cao cấp Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), cho biết công cụ ViRiCert được phát triển như một bộ tiêu chí số hóa giúp nông dân và hợp tác xã tự đánh giá mức độ xanh của ruộng lúa.

Nhiều nông dân và cán bộ ngành nông nghiệp tham quan trình diễn vùng sản xuấtxanh ở Đồng Tháp. Ảnh: Văn Kim Khanh

Thông qua 10 khâu sản xuất từ làm đất, gieo sạ, bón phân, quản lý nước đến thu hoạch, người dân có thể tự chấm điểm và lưu trữ dữ liệu trên nền tảng số. Đây được xem là “ngôn ngữ chung” để chứng minh quá trình sản xuất xanh với các doanh nghiệp và đối tác quốc tế.

Theo TS Nguyễn Văn Hùng, tương lai của ngành lúa gạo không chỉ nằm ở năng suất mà còn ở khả năng truy xuất nguồn gốc và chứng minh phát thải thấp. Khi mỗi cánh đồng đều có dữ liệu số hóa, hạt gạo Việt Nam sẽ có “hộ chiếu xanh” để bước vào những thị trường cao cấp.

Ông cũng nhấn mạnh rằng 100% diện tích tham gia Đề án phải gắn với hợp tác xã và doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Sự liên kết này là nền tảng để xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Hiệu quả kinh tế được kiểm chứng từ thực tế

Những kết quả bước đầu cho thấy mô hình không chỉ mang ý nghĩa môi trường mà còn đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt.

Theo ông Lê Thanh Tùng, các mô hình thí điểm tại nhiều vùng sinh thái ĐBSCL đã giúp nông dân giảm từ 8,2% đến 24,2% chi phí đầu vào. Đồng thời, nhờ liên kết với doanh nghiệp và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, giá bán lúa tăng thêm từ 200 đến 500 đồng mỗi kilogram.

Một thành quả quan trọng khác là giảm phát thải khí nhà kính. Các chuyên gia IRRI đã trực tiếp lắp đặt hệ thống đo khí mê-tan (CH4) và khí N2O trên các cánh đồng thí điểm. Kết quả ghi nhận lượng phát thải giảm trung bình từ 2-5 tấn CO₂ tương đương trên mỗi ha so với phương thức canh tác truyền thống.

Những con số này cho thấy sản xuất xanh không làm giảm thu nhập mà ngược lại còn tạo thêm giá trị cho người trồng lúa.

Điểm trình diễn vùng sản xuất xanh ở tỉnh Tây Ninh tháng 3. Ảnh: Lê Sơn

Nông dân Đồng Tháp đón nhận mô hình mới

Đầu tháng 6 vừa qua, tại ấp 2, xã Phương Thịnh, tỉnh Đồng Tháp, mô hình vùng sản xuất thuộc Đề án 1 triệu ha đã được triển khai thí điểm với sự phối hợp giữa địa phương, VIETRISA và IRRI.

Ông Nguyễn Văn Miền, một nông dân tham gia mô hình, cho biết ban đầu nhiều người còn e ngại khi giảm lượng giống gieo sạ và thay đổi cách quản lý nước. Tuy nhiên, sau một vụ sản xuất, cây lúa phát triển tốt hơn, sâu bệnh giảm, chi phí đầu tư thấp hơn và năng suất vẫn được bảo đảm.

“Trước đây, sau thu hoạch thường đốt rơm cho nhanh. Nay rơm được thu gom bán hoặc làm phân hữu cơ nên vừa có thêm thu nhập, vừa sạch đồng ruộng. Điều quan trọng nhất là doanh nghiệp đến tận nơi liên kết tiêu thụ nên bà con rất yên tâm”, ông chia sẻ.

Theo nhiều hộ dân tại địa phương, việc sử dụng điện thoại để theo dõi lịch tưới nước, ghi chép sản xuất và cập nhật dữ liệu ban đầu còn mới mẻ nhưng đang dần trở thành thói quen.

Hướng tới nền nông nghiệp phát thải thấp

Theo TS Nguyễn Văn Hùng, mô hình thí điểm tại Đồng Tháp cho thấy bức tranh tương lai của ngành lúa gạo ĐBSCL. Đó là những cánh đồng không còn khói rơm rạ; nông dân sử dụng máy móc và công nghệ số, sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ một vùng sản xuất truyền thống, ĐBSCL đang chuyển mình trở thành trung tâm sản xuất lúa gạo xanh của thế giới. Khi khoa học công nghệ, chuyển đổi số và liên kết thị trường cùng hội tụ trên đồng ruộng, hạt gạo Việt Nam không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn trở thành biểu tượng của nền nông nghiệp phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và có trách nhiệm với môi trường toàn cầu.

Kim Văn Thanh

Theo 1thegioi