Cô giáo Nguyễn Thị Lệ Tuyết từ miền núi Lào Cai kể chuyện: “Bà nội tôi là người nông dân chính gốc, sống trọn đời mình với ruộng đồng. Lưng bà còng từ sớm vì gánh lúa, đôi tay rám nắng, thô ráp, luôn dính mùi rơm khô và bùn đất. Nhưng trong tâm trí non nớt của tôi ngày ấy, bà là người dịu dàng nhất thế gian”.


 Bài dự thi “Lúa gạo Việt – Nguồn cội và tương lai”

HỒN QUÊ

Truyện ngắn của NGUYỄN THỊ LỆ TUYẾT (Trường Tiểu học Tằng Loỏng, Lào Cai)

 

Tôi sinh ra vào một năm khó nhọc – năm 1983 – giữa những đợt gió nồm thổi bạt đồng và tiếng trống gọi lúa vọng khắp làng quê. Lúc ấy, đất trời như chỉ có hai màu: màu xanh lam của mây giăng u uẩn và màu vàng sẫm của những cánh đồng vừa gặt dở. Thời ấy, cơm độn sắn, cháo rau lang là chuyện thường nhật. Nhưng với tôi, tuổi thơ lại không hề khô cằn, bởi luôn có một người đàn bà nhỏ bé, gầy gò, nhưng tấm lòng thì bao la như bầu trời tháng sáu – đó là bà nội tôi.

Bà nội tôi là người nông dân chính gốc, sống trọn đời mình với ruộng đồng. Lưng bà còng từ sớm vì gánh lúa, đôi tay rám nắng, thô ráp, luôn dính mùi rơm khô và bùn đất. Nhưng trong tâm trí non nớt của tôi ngày ấy, bà là người dịu dàng nhất thế gian.

Mỗi sáng, bà thường gọi tôi dậy bằng tiếng chổi tre quét sân. Khi tôi lò dò ra cửa, bà đã chuẩn bị sẵn một bát cháo gạo loãng, thêm nhúm muối vừng rang thơm nức. Bà hay nói:

- Bụng đói thì không nghĩ được gì đâu con ạ. Ăn chút rồi theo bà ra đồng.

Tôi bưng bát cháo còn nóng hổi, nhìn bà lúi húi buộc gọn tà áo nâu sòng, mắt cay vì yêu thương.

Đồng lúa cách nhà không xa, nhưng với đôi chân trẻ con thì đó là cả một cuộc phiêu lưu. Con đường đất đỏ lồi lõm, rải đầy rơm vụn và phân trâu khô, dẫn tôi đến một thế giới lộng gió, nơi những bông lúa cúi đầu, mảnh mai mà kiêu hãnh. Bà tôi thường dừng lại giữa đồng, tay chống nạnh, mắt nheo nhìn mây, rồi bảo:

- Năm nay mà không úng thì sẽ được mùa đấy.

Lúc ấy, tôi không hiểu “được mùa” là gì. Giờ nghĩ lại, tôi mới thấy hai chữ ấy đã từng là giấc mơ cháy bỏng của biết bao phận người lam lũ.

Một buổi trưa hè năm ấy, trời đổ mưa rào đúng lúc cả nhà đang phơi lúa. Bà tôi hét lên, giục mọi người chạy ra gom lúa vào nhà. Tôi cũng lao ra, chân trần, ướt lướt thướt, gom từng nắm lúa mà nước mắt hòa lẫn nước mưa. Trong cơn hỗn loạn, bà tôi trượt ngã. Tôi òa khóc, tưởng bà bị làm sao. Nhưng bà vẫn gượng cười, mắt ánh lên niềm tin kỳ lạ:

- Chỉ cần còn giữ được lúa, thì nhà mình còn sống được qua mùa giáp hạt, con ạ.

Tối hôm ấy, cả nhà ăn cơm trộn sắn, bên rổ lúa ướt chưa kịp phơi lại. Bà tôi bới cho tôi phần cơm nhiều hơn, còn bà chỉ ăn phần cháy xém. Tôi nhường bà miếng sắn lớn, nhưng bà lắc đầu:

- Thôi, bà già rồi. Ăn ít cũng đủ. Con đang lớn mà.

Bà không nói, nhưng tôi biết, bà giấu cơn đói vào lòng để dành phần cho con cháu.

Có lần, tôi hỏi bà:

- Bà ơi, sao cây lúa lại quý đến thế?

Bà xoa đầu tôi, giọng trầm lắng:

- Vì nó nuôi sống người ta. Cây lúa là máu, là mồ hôi, là nước mắt. Là thứ khiến người ta không phải ăn cháo cả tháng. Là cái để người ta đổi lấy muối, lấy dầu. Lúa là linh hồn của làng mình.

Những câu nói ấy, tưởng chừng đơn sơ, lại ăn sâu vào ký ức tôi như mùi rơm rạ cứa khẽ lòng bàn tay. Đó là bài học đầu đời về lòng biết ơn, về lao động và về tình yêu âm thầm dành cho đất.

Những lúc rảnh sau mùa gặt Bà hay rủ tôi nhặt những sợi rơm vàng óng đã phơi khô xếp gọn gàng để Bà đan và cuộn lại thành chiếc đệm rơm to, dày ấm áp cất đi để dành. Mùa đông năm đó, rét đến sớm. Gió lạnh rít qua mái rạ, nứt cả vách đất. Nhà tôi nghèo, không có chăn bông. Bà đem chiếc đệm rơm ra rải cho cả nhà nằm, chiếc áo bông vá chằng vá đụp bà đắp cho tôi thêm ấm. Mỗi đêm, tôi hay tỉnh giấc vì nghe tiếng bà ho sù sụ. Tôi rón rén ngồi dậy, đắp lại áo cho bà. Bà giật mình, nhưng vẫn giả vờ ngủ, sợ tôi lo.

Tết năm ấy, bà gói cho tôi một chiếc bánh chưng duy nhất. Không có đỗ, không có thịt, chỉ là nếp trộn muối trắng. Bà bảo:

- Không có tiền mua nhân, nhưng có bánh là có Tết rồi.

Tôi cắn một miếng, vừa nhạt vừa dẻo, nhưng ấm lòng lạ kỳ. Bà còn may cho tôi chiếc áo cánh nâu bằng vải thừa.

- Con mặc mà đi chúc Tết, cho người ta thấy nhà mình cũng có mùa màng- Bà nói. Câu nói vừa tự hào, vừa xót xa.

Thời gian lặng lẽ trôi qua. Tôi lớn dần, còn bà thì yếu đi. Lưng bà còng thêm, mắt mờ hơn. Một lần, tôi đi học xa, Tết mới về. Nhìn thấy bà gầy đi, ngồi lặng lẽ nơi hiên, tôi xót xa khôn tả. Bà vẫn hỏi tôi câu cũ:

- Ở chỗ con có trồng lúa không?

Tôi lắc đầu:

- Toàn nhà máy và đường nhựa thôi bà ạ.

Bà thở dài, mắt vương sương khói:

- Vậy thì khổ đấy. Không có ruộng, không có lúa thì đất nước khó mà yên bụng được.

Bà mất vào một chiều tháng bảy, khi lúa ngoài đồng vừa trổ đòng đòng. Tôi về đến nhà thì bà đã thiêm thiếp không còn nói được nữa. Tôi nắm tay bà, nước mắt rơi như mưa giông mùa hạ. Tôi thì thầm: “Con nhớ hết lời bà dặn. Con sẽ không bao giờ quên đồng lúa làng mình.”

Người ta chôn bà trên một gò đất cao, nhìn ra cánh đồng lúa của cả làng. Mỗi mùa lúa chín, nơi ấy vàng óng như vạt áo mới. Tôi vẫn thường ngồi hàng giờ bên mộ bà, nghe tiếng gió rì rào qua tai, ngỡ như tiếng bà đang gọi: “Dậy đi con, theo bà ra đồng…”

Nhiều năm sau, tôi làm phóng viên, đi khắp nơi. Tôi viết nhiều bài báo về nông nghiệp, về đời sống người dân quê. Nhưng bài viết tôi trân quý nhất lại là bài mang tên: “Lúa – Linh hồn của người Việt”. Bài ấy, tôi viết bằng tất cả ký ức về bà, về những ngày đói cơm thừa sắn, nhưng đầy ắp yêu thương và niềm tin vào hạt lúa.

Tôi chưa từng thấy bà khóc, dù có lần cả nhà trắng tay vì lũ lụt. Bà chỉ im lặng, nhặt từng bông lúa còn sót, phơi lại rồi rang lên ăn dần. Tôi chưa từng thấy bà than trách cuộc đời, dù trời nắng chang chang, gió Lào thổi rát mặt. Bà bảo: “Đất có nứt nẻ, thì lúa cũng sẽ mọc lên từ vết nứt ấy, miễn là mình không bỏ ruộng.”

Giờ đây, khi đứng giữa những cánh đồng điện khí hóa, máy gặt chạy ầm ầm thay cho tay người, tôi vẫn nhớ như in bước chân bà tôi giữa đồng chiều gió thổi. Dáng lưng ấy, chiếc nón mê sờn rách, chiếc khăn mỏ quạ bạc màu, là cả một thời tuổi thơ tôi lặng lẽ đi qua mà không kịp níu giữ. Mỗi lần ngửi thấy mùi rơm cháy, tim tôi lại nhói lên. Mỗi mùa gặt, tôi lại lặng người nhìn từng hạt lúa rơi xuống sân phơi, như thể từng giọt máu của người nông dân quê tôi đổ xuống để có một bữa cơm no.

Tôi kể cho con trai tôi nghe về bà, về năm 1983. Về bát cháo gạo loãng, về miếng bánh chưng không nhân, về lời bà dặn “cây lúa là linh hồn làng mình.” Thằng bé mắt tròn xoe, ngạc nhiên: “Thế mà giờ con ăn cơm trắng ngày ba bữa, còn chê cơm khô!”

Tôi cười, nhưng lòng thì như có ai cứa nhẹ.

Bà ơi, năm nay lúa làng mình chắc trúng mùa. Bà có nghe không?