Khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống, người ta sẽ gieo lúa bằng cách, một người dùng chiếc gậy vót nhọn một đầu, vừa đi vừa chọc lỗ xuống đất, một người tra hạt vào các lỗ ấy (gọi là trỉa hạt). Nhờ cỏ cây được đốt nên rẫy lúa ít sâu bệnh, tro than rải ra thành thứ phân hữu cơ rất tốt cho cây lúa phát triển.
Bài dự thi “Lúa
gạo Việt – Nguồn cội và tương lai”
KHUẤT LẤP GIỮA
SƯƠNG MÂY
ĐÀO AN DUYÊN
(Pleiku, Gia Lai)
Tầm tháng
Ba, tháng Tư dương lịch, nếu về với các làng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, sẽ
dễ dàng gặp một lễ hội rất đậm bản sắc. Khoảng thời gian này, cuối mùa Xuân,
cũng là cuối mùa khô trên đất Tây Nguyên, tiết nông nhàn, người dân thường tổ
chức các lễ hội. Khách từ phương xa đến tham dự, không cần biết thân sơ, thường
được nhận từ gia chủ một ống cơm lam (cơm được nướng trong ống tre). Tước lớp vỏ
ống tre, vắt một miếng cơm thơm dẻo, chấm với chút muối được giã từ các loại cỏ,
lá đất độc đáo, chầm chậm nhai, ta như thấy được hương vị của đất đỏ, của những
con suối róc rách mát lành men quanh chân núi, của rừng già ẩm hoai mùi lá mục,
của rượu cần đượm hương được ủ ngấu, thu gọn lại trong những hạt gạo được gieo
trồng trên xứ bazan.
Giống như hầu
hết các dân tộc ở vùng Đông Nam Á, coi lúa gạo là thực phẩm cơ bản, các tộc người
bản địa vùng Tây Nguyên cũng gieo trồng lúa theo kỹ thuật chung. Tuy nhiên, vì sống
ở địa hình cao nguyên nên tập quán trồng lúa của cư dân bản địa Tây Nguyên có
những nét khác biệt. Từ sự khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết, địa hình, tập
quán canh tác lúa nương của các dân tộc thiểu số khu vực này sản sinh ra những
nét sinh hoạt văn hóa độc đáo gắn liền với đời sống lao động.
Không gian
cư trú của cư dân bản địa Tây Nguyên trước đây gắn với rừng. Để có chỗ trồng trọt,
người ta đốt rừng làm rẫy. Nơi được chọn để khai hoang thường chỉ còn là rừng
thứ sinh, nơi cây cối đã được đốn cách mặt đất khoảng một mét. Cây cối và cỏ
trên đất sau khi được chặt dọn phơi khô thì đốt lần thứ nhất. Những thứ còn sót
lại sau lần đốt thứ nhất được gom lại đốt lần thứ hai, sau đó tro được cào rải
đều ra, rồi cuốc lật đất. Việc làm này hầu như không ảnh hưởng đến cấu tượng đất,
cả bề mặt đất cũng không bị tác động nhiều, lớp rễ cây vẫn còn nguyên trong
lòng đất, còn khả năng nẩy chồi và phát triển trở lại thành rừng sau này, khi mảnh
đất đã được trồng tỉa qua vài mùa, đến khi hết dưỡng chất tự nhiên, người ta bỏ
hóa không gieo trồng nữa.
Tầm tháng Tư
dương lịch, khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống, người ta sẽ gieo lúa bằng cách,
một người dùng chiếc gậy vót nhọn một đầu, vừa đi vừa chọc lỗ xuống đất, một
người tra hạt vào các lỗ ấy (gọi là trỉa hạt). Nhờ cỏ cây được đốt nên rẫy lúa
ít sâu bệnh, tro than rải ra thành thứ phân hữu cơ rất tốt cho cây lúa phát triển.
Đúng đến khi kết thúc mùa mưa (tầm 6 tháng) thì lúa được thu về. Bông lúa rẫy để
khô tự nhiên trên cây, rồi được thu hoạch bằng cách tuốt lấy hạt bỏ vào gùi đem
về kho chứ không gặt, tuốt, phơi lúa như cách thức của người Kinh.
Các dân tộc
thiểu số vùng Tây Nguyên sống theo quan niệm vạn vật hữu linh, nên họ có nhiều
nghi thức thờ cúng các vị thần, trong đó có thần lúa. Dân ca Jrai (một dân tộc
thiểu số ở Gia Lai), trong bài “Khấn gieo hạt” có đoạn: “Hỡi các thần/ Nay xin
mời thần chứng giám/ Tôi gọi thần lúa, thần kê/ Thần ống gieo hạt, thần cuốc, rựa/
Này rượu một ché, gà một con/ Gà thần ăn gan, rượu thần ngậm cần/ Ăn gà, uống
rượu đã xong/ Thần đơm bông cho lúa, tra hạt cho kê/ Bao nhiêu sâu ở gốc, ở rễ,
thần bắt sạch trơn…”. Suốt thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, mảnh rẫy sẽ được
chăm sóc bằng việc làm cỏ liên tục. Mảnh đất rẫy sẽ được canh tác vài năm, đến
khi đất bạc màu, năng suất lúa quá kém, người ta sẽ bỏ hóa để đi tìm mảnh đất
khác. Mảnh đất bị bỏ hóa, lâu dần theo thời gian, cây cối sẽ lại mọc thành rừng.
Tây Nguyên xưa kia, nhờ thế mà luôn giữ được màu xanh của cây, của rừng.
Nền văn minh lúa nước trên đất nước ta đã sản
sinh ra rất nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến lúa gạo.
Bánh chưng bánh dày ra đời như một sự tri ân tiên tổ đã phát hiện ra lúa gạo
làm lương thực nuôi sống bao đời. Trên mâm cỗ vào những dịp nhà có việc trọng,
chẳng bao giờ thiếu đĩa xôi. Rằm tháng Bảy, hớp cháo rải trên lá đa dành cho những
vong linh cơ nhỡ. Trong những lễ hội của người dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên
luôn có những ống cơm được lam (nướng) trên lửa than nồng đượm… Một mùa vụ của
cây lúa với người thiểu số trên đất Tây Nguyên, từ khi hạt lúa giống được vùi
xuống đất, đến khi thành hạt gạo để nấu cơm ăn, mỗi một công việc đều được thực
hiện nghiêm cẩn và thành kính như một nghi lễ: lễ tìm đất, lễ chọn rừng để phát
rẫy cộng đồng, lễ cầu mưa, lễ đánh thức hồn lúa (đưa lúa giống ra khỏi kho), lễ
trỉa hạt, lễ đánh thức ruộng nương, lễ bảo vệ mùa màng, lễ đưa hồn lúa lên
chòi, lễ ăn cơm mới…
Trong những
nghi lễ ấy, lễ ăn cơm mới lớn nhất trong các lễ hội nông nghiệp, cũng là lễ hội
vui nhất. Đơn cử như lễ ăn cơm mới của người Jrai (ở Gia Lai) nhằm cảm tạ thần
linh phù trợ vụ mùa vừa thu hoạch và cầu cho vụ sau sẽ được mùa. Sau khi thu hoạch,
lúa được đưa hết lên chòi (kho) để cất, người Jrai sẽ tổ chức lễ ăn cơm mới.
Ngày chính lễ, tất cả các bếp trong làng đều đỏ lửa. Tùy theo điều kiện kinh tế,
mỗi nhà sẽ tự chuẩn bị lễ vật cúng thần gồm heo hoặc gà, và không thể thiếu rượu
ghè (rượu cần). Sau nghi thức cúng mời thần xuống ăn cơm mới, những người tham
gia lễ hội sẽ lần lượt được mời uống rượu. Cuối cùng, chiêng trống được đánh
lên và thanh niên nhảy múa theo đoàn. Lễ ăn cơm mới của người Jrai thể hiện niềm
tin tuyệt đối vào thần linh. Họ tin rằng, việc mời thần linh trước khi con người
đem lúa mới ra ăn thì mùa sau các thần sẽ lại phù hộ mùa màng bội thu.
Đi trên khắp
các vùng Tây Nguyên trước đây, không khó để có thể bắt gặp các rẫy lúa cạn nằm xen
lẫn cây rừng. Sau này, người từ nhiều vùng khác đến Tây Nguyên sinh sống, nhờ sự
giao thoa văn hóa, cư dân bản địa học được cách gieo trồng lúa nước, vì thế lúa
rẫy cũng ít dần đi. Trong kí ức của những người đã từng gắn bó với Tây
Nguyên trước năm 1975, hình ảnh những
ngôi làng nằm lẩn khuất giữa rừng, xen vào với rừng là những mảnh rẫy trồng lúa
tạo một vẻ riêng biệt mang dấu ấn đặc trưng của đất và người Tây Nguyên. Người
già kể lại rằng, những giống lúa cũ trước đây cao ngang ngực người, bộ đội cách
mạng có thể luồn lách ẩn nấp trong những rẫy lúa trong phút nguy nan. Câu chuyện
giữa lúa và người luôn phảng phất trong những lời hát, những truyện kể, thực
hư, hư thực, bảng lảng như chính không gian núi rừng thấp thoáng bóng người vậy.
Câu chuyện về
lúa gạo dọc dài theo đất nước. Chỗ nào có người, chỗ đó có cây lúa. Với người
dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, cuộc sống vẫn phần nhiều dựa vào nông nghiệp,
và chủ yếu vẫn là trồng lúa. Lúa gạo là thực phẩm chính nuôi sống con người, vậy
nên, cái cách mà con người nâng niu hạt gạo cũng thật đặc biệt. Thấp thoáng giữa
trùng điệp núi rừng là những bóng người nhỏ bé, họ nương vào đất, nương vào rừng
núi, nương vào tự nhiên để sinh tồn. Lúa gạo cũng được dành “ở riêng” một nơi
như con người, trước khi ăn hạt cơm dẻo thơm, người Tây Nguyên dâng cúng mời thần
linh trước, đó là lòng tin tuyệt đối của họ dành cho thứ thực phẩm nuôi sống họ.
Đó cũng là nét văn hóa rất đẹp.
Quanh co trên những nẻo đường Tây Nguyên, màu xanh của ruộng nương lan man gối lên nhau giữa trùng điệp núi đồi. Những thửa ruộng nằm giữa không gian không quá rộng, thường chỉ lọt thỏm giữa lòng thung, đó là vùng thấp trũng có khả năng tích trữ nước để đủ nuôi một mùa lúa. Và quanh thung, giữa màu xanh cây lá, thấp thoáng những ngôi nhà sàn nằm khuất lấp giữa sương mây. Chỉ có mùa lễ hội, vào tiết nông nhàn, hương thơm của cơm chín như đánh thức sự khuất lấp ấy bừng thức trong nhịp chiêng, trong hơi men rượu cần ủ ngấu, trong những bước chân xoay tròn váy áo, trong mắt môi thăm thẳm suối ngàn,… Cũng là những con người ngày ngày cặm cụi rẫy nương ấy, nhưng trong những đêm hội, họ như lột xác. Và lúa gạo đã góp một phần tạo ra đời sống đa thanh sắc trên đất Tây Nguyên.


