Chừng một năm trôi qua, 20 km kênh dẫn nước ngọt đầu tiên tại Đồng Tháp Mười đã đào xong. Mọi người đều biết, phải rửa sạch phèn mới có thể trồng lúa. Nhớ lần đầu ông Năm theo Thông, dẫn anh em ra công trường, đã giật mình sửng sốt. Hàng ngàn con người, từ công an, bộ đội, thanh niên xung phong, cho tới những người bám trụ như ông đang quầy quả chống lại thiên nhiên, bẻ cong dòng chảy.
DỆT GẤM THÊU HOA
Truyện
ngắn của VƯƠNG ĐÌNH KHANG (Hội Văn nghệ An Giang)
“Muốn
xử lý một mẫu đất phèn phải tốn cả triệu USD” – một nhà địa chất Hà Lan cảnh
báo.
“Không
thể trồng lúa được!” – một chuyên gia Liên Xô lên tiếng.
1.
Năm
1976, đất trời Đồng Tháp Mười một độ nghiêng nghiêng. Những vòm mây trắng bung
toả giữa nền xanh gắt nắng. Có chiếc ghe nhỏ xuyên qua mặt nước liu riu, vệt
phèn loang lỗ. Vài bụi cỏ xác xơ buồn hiu, rạp đi dưới bước chân đang nhảy phắt
lên gò.
Ông
Năm quăng điếu thuốc rê, day qua ngó. Đó là một thằng mặt búng ra sữa, sơ-mi
đóng thùng, mắt kiếng dày cộm. Lời chào nhẹ te:
-Dạ,
thưa bác…
Ông
Năm gặp thằng nhỏ lần này là lần thứ ba. Nó lì quá, đuổi hoài không đi. Cậu
trai tên Thông, đưa cái bao lớn chứa đầy lúa giống lên, mới tính nói thì bị nạt:
-Dìa
đi! Làm chuyện ruồi bu! Mày nhìn xung quanh coi, người còn sống không nổi, đừng
kể tới lúa!
“Xung
quanh” mà ông già nói là minh mông phèn. Nước đầy phèn, ăn xuống sâu mười tấc đất,
thấm vô cây lá. Màu vàng cam, khai ngấy bao trùm vạn vật. Xứ Đồng Tháp Mười là
rốn phèn của sông Mekong. Hơn bốn ngàn cây số chiều dài con sông kỳ vĩ đó, toàn
bộ phèn đều dồn ép về đây. Thổ nhưỡng quả thiệt lạ kỳ, tạo ra một vùng trũng xứng
danh “rừng thiêng nước độc”. Đất này là đất dữ, là xứ bị nguyền rủa, ông Năm
hay nói vậy. Kể từ hồi ông nội của ông già lưu lạc tới đây, rồi đời cha, cho tới
khi ông Năm tóc ngã bạc, không có ngày nào chân ông không dính phèn.
Hồi
đó, người Pháp phải bó tay, người Mỹ cũng làm ngơ, biết bao nhiêu nhà khoa học,
chuyên gia khắp thế giới qua nhìn, đều đồng lòng khẳng định: đất chết. Ông Năm
bám trụ đất này bởi lẽ đơn giản, là quê hương. Những người sống rải rác quanh
vùng cũng như ông, không phải dân ngày xưa kháng chiến thì là cùng khổ hết đường
sống, không thể thiên di. Chứ không đâu, ai vùi thân ở xứ này làm gì?
Vậy
mà thằng nhỏ ất ơ này biểu ông tham gia đào kinh, dẫn nước ngọt, rửa phèn. Nó
còn đem lúa giống, nói ông trồng trên thứ đất chua chát đó. Nó có điên không? Ở
đây, thứ lúa duy nhất mọc được là lúa ma. Đó là thứ trời sanh ra, có khả năng mọc
cao hơn nước lũ, chịu nổi phèn chua. Nhưng thứ đó không thể trồng, chỉ có trời
là có khả năng canh tác nó mà thôi. Người mà đòi làm chuyện của trời, bậy bạ!
Hay thằng nhỏ nó biết ông Năm là thủ lãnh dân vùng này? Một khi ông chịu làm là
bà con một dạ làm theo?
Ông
già thấy thằng nhỏ lí nhí, ẻo lả thì đâm quạu. Tụi đọc sách này ăn trắng mặc
trơn, làm sao mà biết khẩn hoang, làm sao biết cái khổ của dân lao động? Đất
này thấm mồ hôi, xương máu của bao nhiêu lớp người, nó mặn chát rồi. Người ở
đây quanh năm ngập ngụa trong phèn, sáu tháng trong năm chìm trong lũ lụt. Dân ở
đây không đánh cá thì bẫy chim, đói thì đi lùa lúa ma, chớ làm sao thay đổi được
thổ nhưỡng của trời sắp đặt? Vài người thử trồng lúa trên gò cao, thu hoạch về
lúa vung chưa đầy bụm tay. Còn thằng nhỏ này, đã từng ăn gió nằm sương bao giờ
chưa mà dám nói ra cái câu…
-Ông
Năm có muốn rửa sạch hết phèn xứ này không? Ông có muốn trồng lúa bạt ngàn hết
Đồng Tháp Mười không?
-Ăn
nói ngông cuồng!
Ông
già nhớ tới chuyện xe cào, xáng cạp mấy nay tới đào kinh dẫn nước, cày xới khắp
vùng, khiến phèn đọng đặc quánh, lan ra đất gò chết hết cây trồng thì nổi sung
thiêng. Ông hét lớn, đuổi anh thư sinh thẳng cổ. Thông quýnh quáng nhảy ngược
xuống ghe. Ghe tròng trành, nước văng trúng cái áo sơ mi, màu cam lè lem nhem
trên nền trắng.
Thông
thả ghe trôi qua đồng phèn, lòng buồn hắt hiu, lỡ nhận trách nhiệm năn nỉ ông
già, ai mà ngờ ổng khó tính vậy? Đột nhiên, có chiếc tam bảng nương theo ghe
anh. Cô gái nghiêng vành nón lá, cười một nụ rạng rỡ vô ngần:
-Ba
em vậy đó, anh đừng để bụng. Người ở đây phải hiểu ý mới nói chuyện được. Mơi
là đám giỗ má, anh qua chơi, rồi lựa lời mà thưa.
Thông
thắc mắc, ông già ghê gớm vậy mà con gái hiền khô? Cô gái tên Thơm trở ghe về,
vạt bà ba bay bay. Bữa sau, Thông xách một bịch gạo qua đám. Ông Năm nhìn thấy,
không ưng bụng nhưng cũng chẳng nói gì. Đám giỗ ghé cúng là có lòng. Thông nhờ
cô Thơm lấy gạo nấu cơm. Gạo trắng, từng hột dẻo kẹo, ngọt thanh. Ông già nhìn
sợi khói trắng len ra từ tô cơm trên bàn thờ thì mát ruột. Đoạn rượu đế ngà ngà
say, mâm trên mấy ông đàn ông nói cười bắt đầu rôm rả. Đúng thời cơ, chàng thư
sinh nhìn vào mắt từng người. Những ông già râu bạc, những bác trung niên đầu
chít khăn rằn, hay vài anh thanh niên da ngâm người vồng cơ bắp. Anh nói:
-Gạo
trắng, cơm dẻo lắm phải không mấy chú mấy bác?
Vài
người gật gù.
-Tại
sao mình không tự trồng thứ gạo này ngay trên đất Tháp Mười?
Ông
Năm quạu, nó lại nói nữa? Vài khách vỗ đùi, than thở chuyện đất trời bạc đãi.
Có kẻ nói mấy trăm năm nay, xứ này đã vậy. Phèn nó đã ăn sâu xuống mấy thước đất,
ăn vô tới mồ mã ông bà tổ tiên bao đời. Xương cốt người xứ này cũng thấm đẫm toàn
là phèn rồi. Muốn rửa đi làm sao đặng, mà còn đòi trồng cả lúa? Thông cười hiền:
-Giặc
Pháp, giặc Mỹ, Polpot nó cày nát Tháp Mười, bà con không sợ. Thổ nhưỡng cay
nghiệt, bà con cũng bám trụ mấy đời. Bây giờ không lẽ ngán phèn sao?
Những
người đàn ông dạn dày sương gió im re, hết thảy nhìn vào mắt thằng nhỏ.
Nhà
nước quyết chí, lớp trẻ tụi con đồng lòng. Ở trên cử tụi con xuống đây, máy móc
chuyên gia có đủ. Bây giờ, mình đào kinh dẫn nước ngọt từ sông Cái về, phủ khắp
vùng. Chỗ nào còn phèn thì đào tới chỗ đó, không chừa một tấc. Lúa ma chịu
phèn, nhưng hay lép. Tụi con lai tạo bằng được thứ giống vừa mạnh, lại vừa trắng,
vừa dẻo. Một năm không được thì hai năm. Hai không được thì ba, bốn, rồi mười
năm. Mấy chú bác không muốn con cháu sau này được múc nước dưới kinh lên mà uống
sao? Không muốn nấu cơm mỗi ngày bằng
chính thứ gạo mình làm ra sao? Không lẽ để tụi nhỏ muôn đời bơi lặn trong phèn?
Mấy chú tưởng tượng đi, rồi Đồng Tháp Mười sau này, con cháu mình sáng bước ra
nhìn chung quanh sẽ xanh rì một màu mạ non, bạt ngàn tới chân trời. Có sướng
không?
Không
biết Thông nói hay rượu nói mà giọng anh rưng rưng. Mấy ông già cũng bùi ngùi.
Tất cả quay đầu nhìn ông Năm, người đứng đầu. Ông Năm nhìn lên bàn thờ, bà già
bỏ đi tới nay đã ba năm. Cả đời bà lam lũ, đi qua mất mát hao mòn, chưa từng được
ăn gạo trắng. Thứ gạo xảm xừ của lúa ma đọng trong cuống họng, cay đắng tới nghẹn
ngào. Bây giờ bà con lo miếng ăn cho gia đình đã bấp bênh, thời gian đâu mà đào
kinh, trồng lúa thử nghiệm, làm dã tràng se cát? “Rửa hết phèn, trồng lúa lên đất
này hả?”- Ông già tự vấn. Ông nhìn ra chân trời, thấy tầng tầng lớp lớp cỏ mọc
cao hơn đầu người, đất đai xác xơ. Có con rắn lớn thong thả trườn qua chẳng e
dè sợ sệch. Ông nhìn vô cửa buồng, thấy con Thơm đứng đó. Bàn tay nó vịn lên
vách, năm móng tay đóng phèn vàng khè. Tự nhiên ông ứa nước mắt. Ông Năm rót một
ly đầy, ngửa cổ uống trót, khà ra một tràng:
-Làm
thì làm! Sợ cái đách gì!
2.
Chừng
một năm trôi qua, 20 km kênh dẫn nước ngọt đầu tiên tại Đồng Tháp Mười đã đào
xong. Mọi người đều biết, phải rửa sạch phèn mới có thể trồng lúa. Nhớ lần đầu
ông Năm theo Thông, dẫn anh em ra công trường, đã giật mình sửng sốt. Hàng ngàn
con người, từ công an, bộ đội, thanh niên xung phong, cho tới những người bám
trụ như ông đang quầy quả chống lại thiên nhiên, bẻ cong dòng chảy. Số lượng
máy xúc không đủ, nguồn động lực chính là sức người. Tiếng leng, cày, cuốc vang
lên tưng bừng. Mọi người làm quần quật dưới cái nắng miền Nam đổ lửa, mồ hôi
tuôn đắng chát từng thớ đất. Khi ấy, đất nước vừa giải phóng, nguồn vốn có hạn,
cơm cho nhân công thường xuyên là cá khô, mắm, muối. Vậy mà ai cũng quyết chí
mà làm, không hề chùn bước.
Một
khi đã quyết, người Nam Bộ luôn tin rằng chân cứng thì đá mềm. Nước ngọt được
khai thông từ sông Cái ở Cai Lậy về, từng phân một. Khoảnh khắc mở đập, thấy nước
đỏ ngầu phù sa tràn vô kinh dẫn mà ông Năm ứa nước mắt. Nước ngọt về rồi! Nhìn
nước ngọt đi vô mà lâng lâng tưởng như quân giải phóng tung cờ đỏ sao vàng về
xã. Ông Năm ngó qua, thấy con Thơm ôm mấy chị em khóc nức nở. Ông mỉm cười, bây
giờ có thể vốc nước mà uống thiệt rồi! Từ rày trở đi không cần đi cả chục cây số
lấy nước ngọt về dùng nữa!
Nhưng
khẩn hoang đâu có dễ? Thấy vậy chớ giặc phèn là một đoàn hùng binh. Vài con
kinh nhỏ làm gì được nó? Nông trường được mở ra, mọi người được phân chia lô, bắt
đầu làm cỏ, vỡ đất canh tác. Đau đớn thay, trồng lúa thì lúa chết, trồng cây ăn
trái thì héo khô. Phèn cứng đầu, nhai đất này như con cọp đói. Thông xuống nhà
ông Năm, thấy mớ lúa vừa nảy mầm mơn mởn hôm trước bất thần héo đọt, anh rầu
rĩ:
-Chắc
là mình phải tiếp tục đào kinh.
Ông
Năm im lìm, gật đầu. Vậy là người Tháp Mười tiếp tục đào. Một năm, rồi hai, ba,
bốn năm. Đào kinh, rửa phèn bằng vôi bột, tro, phân bón. Xong lại tiếp tục trồng
cây, nhìn cây chết. Rồi lại đào. Vòng tuần hoàn đó xoay vòng trong sự mòn mỏi,
nhiều phen hy vọng và thất vọng. Đâu chừng năm thứ sáu, lần đầu tiên lúa nhà
ông Năm ra bông. Vụ đó đã thu hoạch ra lúa thật sự, nhờ mấy ông nhà khoa học
lai ra giống gì đó chống chịu được thứ thổ nhưỡng ẩm ương này. Gạo chưa thật sự
ngon lắm, nhưng cơm nấu ra ăn được. Cha con ông Năm nhìn tô cơm cúng bà già mà
xúc động tới nói không nên lời. Lần đầu tiên sau mấy mươi năm sống trên đất
này, có được nồi cơm do chính mình tạo ra. Thông và miếng cơm, nghe đất trời mềm
đi trôi vào bụng dạ. Ánh mắt anh ánh lên:
-Mình
làm được thiệt rồi bác Năm!
Ông
Năm cười, gác chân lên ghế, ngó ra chân trời mây trắng.
-Làm
hơn nữa chớ mậy! Nhiêu đây thấm gì. Đào tiếp, vụ sau mình thu hoạch gấp hai!
“Vụ
sau” của ông Năm không biết là bao lâu. Thật sự, “trồng được lúa” với “trúng
mùa” khác nhau một trời một vực. Công cuộc tẩy phèn cho vùng đất chết khó như
lên trời. Các nhà khoa học nhận định, phèn của sông Mekong lắng tụ đất này đã
ngàn năm, kể từ đồng bằng Sông Cửu Long hình thành chứ không ít. Suốt từ đó,
phèn ngấm sâu mỗi giờ mỗi phút, ăn tới cội đất. Mỗi năm mùa nước nổi đi qua là
phèn lại ứ lên tiếp. Tình hình cứ thế xoay vòng, đào kinh, rửa đất, lai giống
lúa, trồng thử nghiệm. Nhiều người trụ không nổi, lẳng lặng bỏ đi.
Nhiều
lần, mấy lãnh đạo cấp cao như bác Sáu Dân có xuống tới nơi, động viên bà con cố
gắng. Những con người đó đang cố gắng làm thay việc của mẹ thiên nhiên. Đất nước
khá hơn, nguồn lực được củng cố. Bây giờ người ta tính tới chuyện đào nguyên
con kinh lớn dẫn nước sông Tiền xuống tận đây.
Năm
đó, giữa cuộc khẩn hoang dang dở, lũ về Đồng Tháp Mười lớn chưa từng thấy. Trời
đất nổi cơn tam bành. Mưa xối xả, nước dâng cao, bờ kinh sạt lở. Phèn theo nước
từ thượng nguồn lại ồng ộc. Cây cối úng thuỷ hết trọi. Mưa dầm ngày này qua
tháng nọ, nhà cửa bị cuốn trôi, bà con đối mặt cảnh màn trời chiếu đất. Ông Năm
nhuốm bịnh, cơn sốt rét vật ông già gai góc mềm nhũn. Ông yếu quá, người gầy sộp
đi. Con cháu vây quanh giường, khóc rưng rức. Nhưng trái với tụi nhỏ, ông già lại
cười lấp lánh giữa xoáy đời dâu bể ngoài kia.
-Thằng
Thông… tao gả con Thơm cho mày. Mày thay tao… rửa sạch nghiệp cho đất này…
Hai
đứa nhỏ nước mắt lả chã. Ba bàn tay nắm chặt vào nhau. Ông Năm đã truyền chút
hơi ấm cuối cùng sang người hai đứa con. Nói rồi, ông già ra đi.
3.
Thông
cưới Thơm, Đồng Tháp Mười thành quê hương của anh. Cái nghĩa đó khiến anh càng
dốc tâm mà cải tạo thổ nhưỡng. Cái gan của người khẩn hoang đã lớn, cái chí
càng lớn gấp bội. Kể từ ngày đầu tiên anh chống xuồng đi năn nỉ ông Năm góp sức,
bị ông chửi rủa đuổi đi, tới nay đã vèo ba chục năm. Đôi trai gái mới lớn ngày
nào đã thành hai ông bà trung niên, còn con trai của hai người cũng học thành kỹ
sư nông học. Nhiều bà con đã khuất bóng, cũng nhiều lớp thanh niên trưởng
thành. Đời này qua đời nọ, người Đồng Tháp Mười kiên trì rửa đất.
Năm
2010, 600 km kinh đào đã hoàn tất. Nước ngọt phủ kín mít đất này, chằn chịt như
manh lưới cá. Bây giờ khắp 15 huyện, một thị xã, bảy xã, thuộc ba tỉnh Long An,
Đồng Tháp, Tiền Giang, đâu đâu cũng có nước ngọt. Bao nhiêu phèn chua, bao
nhiêu lũ lụt cũng nhờ hệ thống thuỷ lợi mà bay biến hết thảy. Đất tươi tốt lên
từng ngày. Sổ sách của mấy nhà địa chất đã không còn đo đạc nổi bao nhiêu mồ
hôi xương máu rớt lên Đồng Tháp Mười. Họ chỉ biết, bây giờ vốc một nắm đất cũng
nghe mùi phù sa nồng nàn thoảng lên.
Đứa
con của Thông và Thơm xách về nhà một bịch lúa giống. Nó cười toe, làm Thông nhớ
lại hình ảnh của mình ngày trước, khi gặp ông Năm.
-Giống
mới nhứt nè ba! ĐTM 14-258. Chấp hết phèn, khoẻ dữ trời!
Thông
lẩm nhẩm mã số sau tên giống, không biết mấy ông nhà khoa học này phối tới lần
thứ mấy ngàn mới ra cái số đó? Mấy đứa đọc sách này cũng quyết chí quá, đâu có
thua gì nông dân trực tiếp chiến đấu đâu? Cái trận này, phải giáng cú chót để
ngã ngũ luôn chớ. Kéo dài ròng rã ngót ba thập kỷ rồi ít đâu?
Hạt
lúa giống ĐTM 14-258 gieo lên đất Đồng Tháp Mười năm đó là lần đầu tiên. Mùa
thu hoạch, gia đình ông Thông sáng bước ra, thấy màu vàng trải ngút ngàn hút tầm
mắt. Lúa vàng óng, buông tận chân trời, như tấm lụa phẳng phiu phủ lên trên hao
mòn của quá khứ. Đẹp! Đẹp quá! Nó đẹp tới mức…
Ông
Thông, khi ấy tóc ngã bạc, ứa dòng nước mắt rưng rưng nhìn vợ con. Ông nghẹn ở
cổ họng trăm điều muốn nói, mà phút giây chẳng thốt nên lời. Bà Thơm ôm thằng
con, ngó vô bàn thờ ông Năm ở trong mà oà lên nức nở. Đứa con, nay đã trưởng
thành. Nó hét lên bằng chất giọng vững vàng, tươi trẻ, tràn đầy nhiệt huyết:
-Trúng mùa rồi ba má!
Đất
Tháp Mười tự nào giờ như tấm vải xám xịt cũ nhàu. Rồi từng mũi chỉ luồng vào
nó. Nông dân khâu một đoạn, nhà nước thêu một khúc, nhà khoa học kéo một đường.
Ba mươi năm đi qua, những sắc màu lần lượt dệt lên trên tấm vải cũ, chậm mà chắc,
kiên trì tới tận cùng. Bữa nay, tấm vãi cũ đó đã được dệt gấm thêu hoa, lộng lẫy
lấp lánh giữa đất trời châu thổ.


