Tác giả Lê Hà từ Huế kể chuyện về một đặc sản: 'Lúa Ra Dư lớn chậm và kéo dài cả nửa năm trời. Đến khi hoa cà boong tím thẫm các sườn núi như một lời báo gọi, cũng là lúc lúa chín vàng. Rừng núi lặng đi, nhường chỗ cho mùa gặt, mùa trả ơn đất trời'.

Bài dự thi "Lúa gạo Việt - Nguồn cội và tương lai"

HẠT NGỌC TRÊN NÚI CAO

LÊ HÀ (Thành phố Huế)

Tháng Mười, những nương lúa Ra Dư của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao A Lưới (thành phố Huế) đã bắt đầu cúi mình trong ánh nắng mùa đông nhàn nhạt. Đứng trên con đường nhỏ ngoằn ngoèo dẫn vào bản, ngước mắt nhìn lên có thể thấy bóng núi xanh ngan ngát. Mây trắng quấn quanh chân núi, là đà trên những nương lúa Ra Dư đã vào mùa óng ả.

Những chàng trai, cô gái người Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy… lên nương từ rất sớm. Bước chân họ chạm lên những triền cỏ còn ướt đẫm sương. Chiếc gùi sau lưng như đựng đầy nắng sớm. Tôi đứng nhìn bóng nắng theo chân họ đổ dài trên con dốc ngoằn ngoèo dẫn lên những nương lúa. Những bước chân chắc khỏe, thoăn thoắt. Họ vừa đi vừa chuyện trò. Tiếng nói cười trong veo như tiếng chim rừng gọi bạn trên những tán cây cổ thụ trước mỗi nóc nhà trong bản.

Bà con vùng cao ở A Lưới trỉa lúa Ra Dư trên những sườn đồi cao. Hạt lúa được vùi vào lòng đất, rồi lớn lên một cách tự nhiên. Họ không bón phân hóa học hay dùng thuốc trừ sâu, nên hạt lúa Ra Dư mang hương vị rất riêng của đất trời miền sơn cước.

Truyền thuyết của các đồng bào dân tộc thiểu số ở A Lưới lại kể rằng, hạt lúa Ra Dư được sinh ra từ một quả trứng đá mà chàng Pút đã trao cho vợ mình là nàng Tưr trước lúc đi xa. Chàng dặn vợ mang quả trứng chôn xuống đất phía sau nhà. Ít lâu sau, ở đó đã mọc lên một cái cây. Cây có thân mềm như dải lụa, lớn rất nhanh, bò qua bờ rào, vươn dài theo những triền sông, leo lên những sườn đồi đầy nắng. Đúng vào mùa dân làng tuốt lúa về nhà, thì những quả trên cây cũng vừa chín tới. Nàng Tưr chọn một quả đẹp nhất, đem về nhà rồi đập vỡ ra. Từ trong lòng quả, hạt lúa không biết từ đâu cứ chảy ra ào ạt, hạt nối hạt, ào ào như suối.

Chiều hôm ấy, nàng mang gạo ra bờ sông, nhóm lửa nấu cơm. Khi cơm chín tới, mùi thơm gạo mới dìu dặt như lấp đầy cả con sông dài. Trong làn hương dịu ngọt ấy, chàng Pút hiện về. Chàng nói, hạt gạo ấy là quà của nhà trời, gửi xuống cho bà con dân làng, để mỗi mùa lúa đến, bếp nhà ai cũng đủ đầy ấm no. Dân làng biết ơn chàng đã cho hạt lúa quý, nên đặt tên là Ra dư, nghĩa là gạo của chàng rể quý, và xem Ra Dư như hạt ngọc của trời.

Người Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy… nơi đây rất quý hạt gạo Ra Dư. Mỗi mùa thu hoạch xong, bà con thường cất kỹ hạt lúa trên chái bếp chẳng dám ăn. Chỉ để dành những dịp quan trọng như khi con rể về thăm, nhà có khách quý hay lúc lễ tết.

Lần đầu tiên được nếm thử vị ngọt thơm của chén cơm nấu từ gạo Ra Dư, là khi tôi về làm khách trong nhà của Trưng Nhĩ, người con gái Pa Cô, ở xã Hồng Thủy (nay là xã A Lưới 1) trong một ngày mưa rả rích. Nhĩ đãi tôi bằng nồi cơm nấu từ gạo Ra Dư vừa mới thu hoạch. Mâm cơm hôm ấy được bày giữa hiên nhà, trong gió núi vi vút và tiếng giun dế râm ran buổi chập choạng. Chén cơm Ra Dư dẻo ngọt thơm lừng, hạt cơm hồng hồng như thấm đỏ ân tình người gieo. Nhĩ nói, gạo Ra Dư có các chất dinh dưỡng cao hơn các loại gạo thường nhiều lần. Cơm nấu từ gạo Ra Dư để sang ngày hôm sau vẫn giữ được độ ngon, ngọt, mềm, dẻo. Lên vùng cao, được ăn chén cơm nấu từ “hạt ngọc trời”, gói ghém cùng với cá suối gác bếp, kiệu rẫy xào thịt khô, lá sắn xào cứ khiến tôi nhớ mãi.

Nhĩ bộc bạch, để có được hạt gạo trắng hồng thơm ngọt, cây lúa Ra Dư đã phải đi trọn một vòng đời rất khắc nghiệt. Mùa gieo hạt bắt đầu khi hè vừa chạm ngõ. Lúa lớn lên giữa những tháng trời khô khát, nắng gió hun hắt trên đồi cao. Đến lúc trổ bông, cũng là khi mùa mưa ầm ào đổ xuống, mang theo những cơn lũ bất thường. Cây lúa cứ thế gánh trên mình đủ đầy nắng hạn lẫn mưa dầm.

Mỗi vụ lúa Ra Dư kéo dài cả nửa năm, cây lúa lại cho năng suất thấp, nên những bước chân người Pa Cô lên nương cũng thưa dần. Những rẫy lúa xưa cứ thu hẹp dần, nhường chỗ cho những ruộng lúa nước xanh người dưới chân núi, loại lúa ngắn ngày, dễ làm và cho năng suất cao.

Nhĩ nói với tôi rằng, không nhớ hết có bao nhiêu vụ lúa Ra Dư trên những sườn đồi đã bị những cơn mưa núi dữ dội cuốn đi hết. Thế nên, khi thấy mưa núi đột ngột kéo về, khi lúa Ra Dư còn chưa kịp chín vàng, bà con ở bản chẳng dám chậm chân, bươn bả lên nương cứu lúa. Trên những triền đất nhão nhoẹt, họ lần tìm từng bông lúa đã bị mưa gió vùi sâu trong bùn, gom góp từng hạt lúa chưa kịp tròn mang về nhà.

Bên nhà Nhĩ cũng có một hồ cá to rộng. Mùa Ra Dư năm ngoái, Nhĩ cũng đã tất tả lên nương cùng người thân cứu lúa như thế. Cả nhà gùi những bông lúa ra góc hồ đó, rửa trôi bùn đất, đãi sạch từng hạt lép hạt dẹp, rồi đặt lúa vào nong tre, gác lên chái bếp. Từng nong, từng nong lúa, đã được hong khô trong khói bếp, ám mùi củi lửa, ám cả nỗi chắt chiu nhọc nhằn của người trồng.

***

Tôi như vẫn còn nghe thấy mùi hương của mâm cơm nấu bằng hạt gạo Ra Dư được dân làng dâng lên thần linh, dâng lên tổ tiên mình trong âm thanh của tiếng chiêng, tiếng trống mấy năm trước, khi tôi ghé qua xã Trung Sơn (nay là xã A Lưới 1, thành phố Huế) đúng dịp lễ hội A Riêu Ping của người Pa Cô.

Trước khi sống ổn định tại các bản làng, dân tộc Pa Cô và nhiều dân tộc khác ở vùng cao A Lưới đã đi theo tiếng đất, tiếng rừng, sống cuộc đời du canh du cư nơi rừng thẳm. Họ không có điều kiện chăm sóc mồ mả của tổ tiên để lại phía sau lưng. Nên cứ mười năm, hai mươi năm, các bản làng, dòng họ của người Pa Cô lại tổ chức lễ A Riêu Ping một lần để bày tỏ lòng tôn kính, tưởng nhớ người đã khuất.

Trong tiếng chiêng trầm tưởng nhớ về cội nguồn khiến người ta nghĩ đến những bước chân người Pa Cô từng in trên đất rừng qua nhiều thế hệ. Mỗi hạt cơm trắng dẻo dâng lên tổ tiên hôm nay như còn giữ lại ký ức của những mùa gieo trỉa cũ, của những năm tháng con người sống nương tựa vào thiên nhiên, nghe mưa nắng mà tính mùa vụ.

Những chuyến đi vùng cao luôn đưa bước chân tôi về làm khách trong căn nhà gỗ nhỏ của già làng Hồ Văn Hạnh. Bên ly rượu ấm ngày đông, ông đã kể tôi nghe về ký ức xa xưa của cây lúa Ra Dư giữa đại ngàn. Thuở trước, mùa vụ của người Pa Cô được tính bằng tiếng ve râm ran dưới tán rừng khi xuân sắp cạn, đó là lúc người Pa Cô phát rẫy, mở đất, khởi đầu mùa lúa. Khi hoa cu píe, hoa cà zóp nở trắng như sương phủ khắp rừng sâu, người Pa Cô sẽ gieo những hạt Ra dư đầu tiên xuống đất.

Lúa Ra Dư lớn chậm và kéo dài cả nửa năm trời. Đến khi hoa cà boong tím thẫm các sườn núi như một lời báo gọi, cũng là lúc lúa chín vàng. Rừng núi lặng đi, nhường chỗ cho mùa gặt, mùa trả ơn đất trời.

Già Hạnh nói rằng, trước khi trỉa lúa, người Pa Cô của già sẽ làm lễ cúng ngay tại nhà. Gian bếp được dọn gọn, lửa được nhóm lên. Con gà, đĩa xôi gói lá rừng được đặt ngay ngắn. Họ dâng lễ lên thần linh, thưa với mẹ lúa bằng những lời khấn thành tâm. Đó là khoảnh khắc con người cúi mình trước đất trời, trước hạt giống sắp được gửi xuống sườn đồi. Họ cầu mưa thuận gió hòa, cầu cho hạt lúa đủ khỏe để nảy mầm, cho mùa màng no đủ, cho người trong bản qua mùa giáp hạt vẫn có cơm ăn. Những điều ước chỉ vừa đủ cho một đời sống yên lành.

Họ còn mong cây lúa hiền lành, biết thương người. Bởi với họ, cây lúa Ra Dư cũng có linh hồn, có trí nhớ. Nó biết nhìn con người đi qua rẫy, nhớ những bước chân quen, và không dễ gì tha thứ cho những kẻ lạ đến nương rẫy phá hoại.

Khi mùa thu hoạch đến, bà con vùng cao lại làm lễ báo với thần linh rằng, họ sắp đón lúa về nhà. Chủ nhà phải lên rẫy gặt nắm lúa đầu tiên, như một cách nhận mặt, để cây lúa biết rằng những bước chân sắp sửa đi qua rẫy là bước chân người nhà.

Những niềm tin ấy được truyền qua bao thế hệ, bằng những mùa lúa nối dài, bằng bếp lửa hun khói gác bếp, bằng cách người vùng cao thành kính cúi đầu trước hạt lúa mỗi mùa gặt.

***

Tôi gặp già Lê Văn A Tút trên cánh đồng lúa Ra Dư đang thì chín tới. Giữa sắc vàng trải dài trên đồng, già đang cặm cụi căng thêm những sợi dây nối các ống tre làm bẫy đuổi chim trên rẫy. “Hạt lúa Ra Dư thơm lắm, nên con chim trời cũng mê”, già cười hiền.

Từ khi lúa ngậm sữa, người Pa Cô đã thay nhau lên nương trông giữ. Những sợi dây căng ngang ruộng, treo lủng lẳng các ống nứa rỗng. Gió núi lùa qua, ống tre va vào nhau, phát ra những tiếng khô đục, khiến chim trời giật mình bay đi.

Tôi nhớ già Con poong Pa Hy Bầu, người Pa Hy, đã nói rằng, chính những lần lên rẫy ngồi canh lúa Ra dư của trai gái người Pa Hy xưa, đã góp phần tạo nên tục đi sim (trai gái khi đến tuổi dựng vợ gã chồng sẽ đi tìm hiểu nhau để kết hôn) của dân tộc ông. Những chàng trai đã mang theo tiếng đàn Tâm prảy, mang theo tiếng sáo tere, ngồi bên những triền lúa xanh, dưới những bóng cây rừng, gửi tiếng lòng mình vào mây trời gió núi. Những cô gái Pa Hy nghe tiếng sáo tiếng đàn mà thấu hiểu tiếng lòng chàng trai rồi nên duyên chồng vợ. Già Bâu nói, bây giờ những ruộng lúa Ra Dư của người Pa Hy của ông vẫn còn xanh trên những triền đồi, nhưng tục đi sim xưa kia thì đã vắng bóng.

Tháng tư, những ruộng lúa nước bên hông nhà Trưng Nhĩ đã bắt đầu chắc hạt. Già Tút nói với tôi, đó là lúa Ra Dư, giờ đã được đưa xuống ruộng nước.

Trưng Nhĩ là con gái già Tút. Cô đã háo hức kể về những ngày đưa máy múc lên đồi, san đất, rồi dẫn nước từ suối về. Cả gia đình Nhĩ từng lo lắng, sợ cô mất công, mất sức, lại chẳng làm ra hạt lúa nào. Nhưng rồi cây lúa Ra Dư vẫn bén đất, bén nước, cho được hạt gạo ngon.

Lúa Ra Dư rẫy bắt đầu từ tháng 4, tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, tháng 11, thì lúa Ra Dư trồng ruộng nước bắt đầu từ tháng Giêng, đến tháng Tư thì thu hoạch, rút ngắn được gần hai tháng so với trồng trên nương. Nhĩ gọi vụ lúa Ra Dư trồng ruộng nước là vụ trái. Vụ trái vừa ngắn ngày, lại không gặp hạn, gặp mưa lũ như vụ Ra Dư chính vụ, nên năng suất cao hơn vụ chính rất nhiều lần. Dẫu vậy, vẫn không sánh bằng các giống lúa nước ngắn ngày khác. Nhưng với Nhĩ, và nhiều người khác trong bản như chị Hồ Thị Bét, Hồ Thị Thuận, Hồ Thị Diễm Hương…, điều quan trọng nhất với họ khi trồng Ra Dư là gìn giữ được giống lúa bản địa đã gắn bó với cha ông mình.

Đã có lúc, những người già trong các bản làng từng ôm nỗi lo, cây lúa Ra Dư sẽ vắng bóng trên các nương rẫy. Bởi bước chân họ không còn đủ sức lên nương để giữ gìn giống lúa của cha ông. Còn người trẻ chẳng mấy ai mặn mà với Ra Dư vì năng suất thấp. Hiểu nỗi lo ấy, các cơ quan chức năng huyện A Lưới cũ (nay là xã A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5) đã nỗ lực phục tráng lại giống lúa “thiêng” của đồng bào, tránh nguy cơ mai một. Nhờ vậy, những nương lúa Ra dư sau nhiều năm vắng bóng đã dần xanh trở lại các triền đồi.

Tôi vẫn nhớ nụ cười tươi rói của Nhĩ trong một buổi hội chợ nông sản vùng cao giữa lòng thành phố Huế. Nhĩ mang theo gạo Ra Dư từ bản làng mình xuống phố với tất cả niềm tự hào. Những túi gạo hút chân không được đặt ngay ngắn trên bàn, dường như vẫn còn giữ lại hơi đất, hơi sương của những sườn đồi xa. Nhĩ chia sẻ, gạo Ra Dư trồng khó, năng suất thấp, nhưng lại cho hạt gạo thơm ngon nên giá thành thường rất cao. Một ký Ra Dư có giá từ 60 - 80 nghìn đồng. Bây giờ, nhiều người chọn mua gạo Ra dư để làm quà tặng nhau trong những dịp lễ, tết, hoặc để làm các loại trà giải nhiệt.

Từ hạt lúa thiêng chỉ dành riêng cho những dịp như lễ, tết, Ra Dư hôm nay đã rời khỏi gian bếp nhỏ của bản làng, xuôi về phố thị và có chỗ đứng trên thị trường. Gạo Ra Dư đã trở thành đặc sản mang tên núi rừng A Lưới, cũng mở ra một sinh kế cho người dân. Nhưng dẫu đi xa đến đâu, thì trong mỗi hạt gạo Ra Dư vẫn luôn đượm mùi khói lửa của những mùa rẫy xưa, của nắng gió đại ngàn, chính điều đó đã tạo nên hương vị khác biệt của hạt gạo từ núi cao./.