Trong căn bếp ấm sực hơi than, tôi vừa ăn bát bún của bà vừa xuýt xoa vì cay. Những sợi bún dẻo dẻo, dai dai, thấm đẫm vị mặn của mắm cốt, vị cay thơm của tiêu, của hành tăm và những loại rau thơm trong vườn bà, xen lẫn những miếng thịt ba chỉ béo ngọt, cắt nhỏ xào xém cạnh.


 Bài dự thi “Lúa gạo Việt - Nguồn cội và tương lai”

HƠI ẤM VỀ LẠI BẾP XƯA

Truyện ngắn của ĐẬU THỊ THÚY HÀ (Công an tỉnh Hà Tĩnh)


Ngày tôi lên thành phố nhập học, bà bỏ gánh bún đang bán dở ngoài chợ hớt hải chạy về. Bà gói ghém những thứ ngon nhất, tốt nhất trong vườn cho tôi: chục trứng gà so, bó mùng tơi xanh mướt, những quả mướp hương còn chưa rụng hết cánh hoa, cả mớ khoai bà thu hoạch lứa đầu… Bà vừa cố nhét thật nhiều vào cái bì tải để bố tôi chất lên xe, vừa càm ràm: “Bây nói mốt mới đi mà chừ bây đi luôn. Cũng không nói với bà trước một tiếng.”.

Tôi cười áy náy:

- Tại trường thông báo lại là nhập học sớm ạ. Cuối tuần con lại về mà bà.

- Cố ăn hết từng này cho khỏe lấy sức mà học. Cuối tuần về bà lại lấy thêm cho.

- Dạ, con ăn thế này béo phì chết.

- Béo chi mà béo, người như que củi khô, lo mà ăn. Ở đây học giỏi nhất làng rồi, lên trên nớ học giỏi nhất tỉnh luôn nha con.

Tôi nghe bà nói vậy bật cười, kêu lên:

- Trời ơi, sao giỏi nhất tỉnh được ạ. Khó lắm bà ơi.

Bà vừa vỗ lưng tôi vừa nói: Cố gắng, cố gắng nha.

Xe lăn bánh, tôi ngoái lại phía sau vẫn thấy bà đứng đó nhìn theo…

Bà tôi có tận tám đứa cháu nhưng bà thương tôi nhất. Bởi lẽ, tôi mồ côi mẹ từ lúc lọt lòng. Bố tôi kể, ngày ấy người mẹ đáng thương của tôi vì băng huyết mà mất ngay trên giường sinh. Bà đã bế tôi đi xin sữa của các cô, các dì nuôi con nhỏ trong làng suốt một năm trời. Bà nấu từng cữ cháo loãng bón cho tôi. Tôi lên bảy, bố dẫn dì về xin cưới. Bà tôi chỉ nói với bố rằng: nếu người ta thương con Na thì dù đui, què, mẻ, sứt gì bà cũng đồng ý. Na là tôi.

Rồi bố và dì ở riêng, mang cả tôi theo cùng. Mặc dù ở riêng, nhưng cũng đều cùng một làng, nhà bố chỉ cách nhà bà có mấy bước chân. Vậy mà, bà làm như xa xôi lắm, bà khóc rưng rức, kêu tôi nói nhỏ: sau này có ấm ức gì thì kêu bà. Tôi hiểu bà thương tôi, sợ tôi chịu cảnh con riêng, mẹ kế. Tôi may mắn được dì thương, tôi gọi dì là mẹ, bà cũng yên lòng.

Lần này tôi không còn xa bà có mấy bước chân nữa mà xa bà tận vài tiếng đồng hồ đi ô tô. Đối với một con bé chưa từng đi xa như tôi, thành phố nơi tôi học cũng bé thôi nhưng mọi thứ đều xa lạ, không như ở quê, rộng thế mà nhìn đâu cũng thân quen. Mỗi lần đi trên bất cứ con phố nào, tôi đều nhìn xem có chút gì thân thuộc của quê hương không. Thấy hàng phượng đỏ trên phố, tôi nhớ đến cây phượng già đầu làng, hoa đỏ rực cả một vùng trời. Đi qua vườn nhà ai có luống rau xanh mướt, tôi lại nghĩ đến vườn rau của bà. Và khi nhìn thấy những cụ già quảy gánh hàng rong, tôi lại nhớ dáng bà lom khom gánh bún ra chợ bán, nhớ những lúc bà ngồi vắt những “lá” bún tròn tròn, nóng hổi, nhớ món bún xào tiêu bà làm cho tôi ăn…

Mỗi lần tôi về bà đều bỏ buổi chợ để ở nhà với tôi, nấu cho tôi đủ món ngon. Phần thưởng đạt giải Học sinh giỏi Quốc gia năm lớp 11 tôi đã để dành mua tặng bà một chiếc áo len rất ấm, bà mặc vào rồi khoe khắp xóm. Gặp ai bà cũng bắt chuyện ngay: “Cái áo tôi mặc đẹp chưa, của cái Na nó mua cho tôi bằng tiền học sinh giỏi Quốc gia của nó đấy”. Tôi vừa vui vừa ngại. Rồi bà hỏi tôi muốn bà thưởng gì. Tôi chỉ nói rằng “Con muốn ăn bún xào tiêu bà làm thôi. Thật nhiều tiêu thơm cay bà nhé”. Bà cười, ôm lấy tôi. Mùi trầu trên người bà vừa thơm vừa ấm.

Trong căn bếp ấm sực hơi than, tôi vừa ăn bát bún của bà vừa xuýt xoa vì cay. Những sợi bún dẻo dẻo, dai dai, thấm đẫm vị mặn của mắm cốt, vị cay thơm của tiêu, của hành tăm và những loại rau thơm trong vườn bà, xen lẫn những miếng thịt ba chỉ béo ngọt, cắt nhỏ xào xém cạnh. Ăn hai bát thấy no rồi. Tôi ngẩng đầu lên thấy bà nhìn tôi ăn, tôi liền xin thêm bát nữa để bà vui. Và đúng là bà vui thật.

Tôi hỏi bà:

- Bà ơi, sau này học xong Đại học, con về nối nghiệp bán bún của bà được không?

 Bà thảng thốt kêu lên:

- Trời đất, cái con nhỏ ni nói tầm bậy. Học giỏi thì bán bún chi cho khổ vậy con.

- Từ nhỏ con đã thấy bà làm bún nên con biết cách làm rồi. Bún được làm từ loại gạo dẻo thơm của quê mình, rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Nghề bún là nghề truyền thống của làng nhưng ai cũng bán nhỏ lẻ cả. Sau này con muốn nghề bún của làng mình phát triển hơn, bún của làng mình được bán ở nhiều nơi, biết đâu còn xuất khẩu được ra nước ngoài ấy.

Bà gõ đầu tôi:

- Bố nhà chị. Nói chi mà nghe xa xôi rứa.

- Con nói thật mà. Bà làm bún ngon thế này mà chỉ có mỗi cháu và người trong làng biết thì tiếc quá. Phải tìm cách để nhiều người biết đến bún của bà, của làng mình chứ.

Tôi không biết bà có tin lời tôi không hay chỉ coi đó là lời con trẻ nhưng tôi thấy bà cười nhiều lắm.

Tôi chỉ về được vài ngày rồi lại đi học. Năm cuối cấp, bài vở và những kỳ thi căng thẳng cứ cuốn lấy tôi. Những lần về thăm nhà của tôi thưa dần. Mỗi lần về thăm đều thấy bà già yếu hơn trước. Tôi bảo bố đừng để bà làm bún mang đi bán nữa. Bố bảo rằng, bố và các chú khuyên bà nhiều lần, còn giấu cả cái vắt bún của bà đi, nhưng bà không chịu. Bà bảo đi bán bún vừa vui, vừa có thêm ít đồng mua quà bánh cho các cháu.

Một buổi chiều mùa đông rét căm căm, tôi đang ngồi học trong lớp thì cô giáo chủ nhiệm bảo bố nhắn tôi về, bà ốm nặng. Tai tôi như ù đi, linh tính điều chẳng lành. Tôi tức tốc bắt xe về. Quãng đường vẫn thế mà sao hôm ấy tôi thấy xa xôi quá chừng. Tôi về thấy bà nằm đó, xanh xao còm cõi. Bà thấy tôi, nước mắt chảy ra. Bà thều thào: “Rứa là bà không chờ được đến lúc cái Na đi lấy chồng rồi, không chờ được hắn mở công ty bún cho bà rồi. Bà xuống dưới kia bà sẽ nói với mẹ con là con giỏi lắm, ngoan lắm. Con đừng khóc nha con. ”. Rồi bà đi. Cả bầu trời xung quanh tôi như tối sầm sụp đổ.

Tang lễ của bà đã xong xuôi, chu toàn. Trước khi trở lại thành phố, tôi ngồi một mình trong căn bếp của bà. Căn bếp không còn ấm như trước nữa. Chiếc cối xay, cối giã bột, cái vắt bún bằng tay, những chiếc nồi, đôi đũa cả nằm bơ vơ, lạnh lẽo. Ngoài vườn, mấy quả mướp đã già, những luống rau xơ xác dưới mưa. Tôi lấy tấm bạt che lại chiếc chuồng nơi đàn gà đang co ro vì rét. Tôi vãi cho chúng mấy nắm thóc rồi khép cửa ra về.

Mùa đông năm ấy, tôi càng thấy mình lạc lõng bơ vơ giữa thành phố. Lòng tôi nhớ bà da diết. Tôi tiếc mình không thể lớn nhanh hơn, tiếc vì bà không thể ở lại với tôi lâu hơn để tôi có thể báo hiếu với bà, để tôi có thêm điểm tựa tinh thần. Mãi sau này khi nghĩ lại những ngày tháng ấy, tôi không biết mình đã vượt qua bằng cách nào. Tôi chỉ nhớ, đã có lúc vì mải mê đạp xe theo một cụ bà quảy gánh hàng rong có dáng hình lom khom, gầy guộc giống bà mà tôi chậm một buổi học.

Tôi lại xa quê suốt gần mười năm, để học Đại học và lăn lộn kiếm tiền ở thành phố lớn. Có chút vốn trong tay, tôi trở về với quyết tâm đưa nghề bún của làng phát triển. Ai cũng hoài nghi với dự định đó của tôi. Chỉ có tôi tin vào chính mình và tôi biết, ở một nơi xa xôi nào đó, có một người luôn tin tưởng, kỳ vọng và khích lệ tôi. Tôi bắt đầu đỏ lửa từ gian bếp của bà. Tôi giữ lại hương vị truyền thống của sợi bún từ gạo quê và phát triển phương thức, cách quản lý, cách đưa sản phẩm tiếp cận khách hàng. Thành công đã le lói khởi sắc, gian truân còn nhiều vô kể. Tôi biết mình còn phải cố gắng nhiều.

Chiều nay, trong tiết trời mưa phùn gió rét như ngày bà đi năm ấy, tôi đặt lên bàn thờ bà đĩa bún dẻo thơm – là sản phẩm bún được đóng gói và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đầu tiên của tôi. Tôi thắp một nén hương thơm. Khói hương nhòe trong mắt.

“Bà ơi, ước gì bà còn ở đây, con làm món bún xào tiêu mời bà ăn nhé, bà ơi…”.