Đồng mùa này vừa gặt xong. Gốc rạ còn trơ, đất nứt chân chim. Mấy đám rơm chất thành ụ, chờ đốt. Gió thổi, mùi rơm khô ngai ngái bay lên, quyện với nắng, với khói. Mùi ấy đánh thức trong anh một thứ gì rất cũ. Hồi nhỏ, cũng mùi này, những buổi trưa trốn ngủ, anh chạy theo đám bạn ra đồng…


 Bài dự thi “Lúa gạo Việt – Nguồn cội và tương lai”

HẠT NGỌC MÙI QUÊ

Truyện ngắn của NGUYỄN DUY MINH (sinh viên năm 3, Đại học Cần Thơ)

 

Những đứa trẻ quê, vào mùa cắt lúa, thường quay quần bên nhau, nô đùa cả ngày. Đến tối trời, khi những bao lúa đã được đem vào sân nhà, chúng lại túm tụm bên cạnh bà để nghe bà kể chuyện đời xưa. Không biết những câu chuyện ấy bắt nguồn từ ai, từ đâu mà chỉ biết rằng bà nói bà nghe má bà kể lại mà má bà lại nghe kể từ ngoại của bà. Mùa lúa nào cũng vậy, hễ sập tối là mấy đứa nhỏ muốn nghe bà kể chuyện.

Ai ở xa về đều nhớ câu chuyện bà kể bên hiên.

Thuở đất trời hãy còn non trẻ, khi con người mới được nặn ra từ bùn đất phương Nam, Ngọc Hoàng nhìn xuống hạ giới mà chạnh lòng. Người đông dần lên, tiếng cười có, tiếng khóc có mà cái bụng thì vẫn hay cồn cào đói khát. Ngọc Hoàng mới gọi các vị tiên lại, bàn chuyện ban cho loài người một thứ để họ sống. Ngọc Hoàng cùng chư vị tiên tử nhận thấy nếu cho họ vàng bạc thì sanh lòng tham, cho họ sức mạnh thì sinh hiếu chiến nên cho họ lúa. Vậy là hạt lúa ra đời.

Hạt lúa bấy giờ lạ lắm, chỉ cần người trần vãi xuống đất, không cần cày sâu cuốc bẫm, không cần lo nước nôi mưa nắng. Hạt lúa tự lớn, tự trổ đòng, tự chín vàng. Tới mùa, từng hạt lúa nhẹ như gió, bay từ ruộng đồng về thẳng mái nhà người nông dân, rớt xuống lu, xuống nia, xuống bếp. Cơm nấu lên thơm lừng, dẻo quánh, ăn vô ấm từ cổ họng xuống tới bụng. Thuở đầu, con người biết ơn lắm. Họ đặt hạt lúa lên bàn thờ. Họ cúi đầu mỗi bữa cơm. Họ gọi lúa là hạt lộc trời cho. Nhưng cái ơn, nếu không giữ thì nó mòn nhanh hơn đất ruộng mùa hạn. Lâu ngày, người ta bắt đầu chán việc ra đồng. Họ nói với nhau: “Gieo chi cho cực, cứ đổ đại một đống rồi về, lúa nó cũng lớn”. Thế là ruộng không còn ai chăm, cỏ mọc đầy, nước ngập úng. Lúa vẫn lớn, vẫn bay về nhưng lòng người thì cạn dần sự trân quý. Ngọc Hoàng nhìn xuống, giận run cả mây trời. Ngài nổi cơn thịnh nộ, gọi thiên binh: “Thu phép lạ của lúa! Xóa lúa khỏi vạn vật, cho loài người biết thế nào là đói!”

Lúc ấy, giữa sân trời, một loài nhỏ bé bước ra, không phải rồng, không phải phượng, là một con chó, loài vẫn lẽo đẽo theo chân người trần. Chó cúi đầu, giọng run run: “Muôn tâu Ngọc Hoàng…Xin cho lúa ở lại. Dù không còn bay về nhà nữa cũng được. Con người có lỗi nhưng họ với chúng con đều sống nhờ cơm gạo”.

Ngọc Hoàng nhìn xuống hạ giới thêm lần nữa. Ngài nhìn những mái nhà tranh, những đứa trẻ gầy gò và cả những con chó nằm chờ chủ bên bếp lửa. Cuối cùng, ngài thở dài: “Thôi được. Ta cho lúa ở lại. Nhưng từ nay, muốn có cơm ăn thì phải đổi bằng mồ hôi và công sức lao động”.

Từ đó, hạt lúa không bay nữa. Con người phải cày, phải gặt, phải phơi, phải giã.

Và chó thì được ăn những hạt lúa rơi bên bếp, đời đời giữ nghĩa.

*

Ở một thành phố sáng đèn, có một người đàn ông trẻ, quần áo phẳng phiu, đồng hồ sáng loáng. Người ta gọi anh là giám đốc trẻ, gọi bằng ánh mắt ngưỡng mộ. Nhưng anh không thích ăn cơm vì anh nghĩ đó là món ăn tầm thường, quê mùa. Bữa sáng, anh ăn bánh mì kẹp. Bữa trưa là gà rán. Bữa tối là mì gói cao cấp nhập ngoại. “Thời đại nào rồi còn ăn cơm trắng với cá kho” anh từng cười nhạt trong một buổi họp.

Anh sinh ra ở quê. Ba đời làm nông. Nhưng cha anh quyết cho con thoát ruộng, bán đất cho con đi học. Anh thành công. Và anh quên mất mùi lúa. Cho tới một ngày, dạ dày anh đau quặn, viêm loét. Bác sĩ lắc đầu: “Anh phải về quê đi thôi. Tạm gác lại công việc đi. Cố gắng ăn uống đàng hoàng, cơm, cháo, rau đồng vậy chứ tốt hơn mấy món Tây đó. Chỗ bạn bè, tôi khuyên thật lòng. À, lâu rồi tôi thấy anh chưa về thăm nhà, chắc bác cũng nhớ anh lắm”.

Anh cười khẩy rồi im.

*

Quê anh vẫn vậy. Con đường đất đỏ. Hàng tre cũ. Mùi rơm phơi ngai ngái. Cha anh già hơn trong ký ức. Lưng còng hơn. Nhưng ánh mắt vẫn hiền như ruộng lúa mùa nước nổi. Những ngày đầu, cha nấu cháo trắng, chỉ cháo với chút muối mè. Nhưng lạ thay anh thấy thơm, mùi thơm ấy không giống nhà hàng mà giống phần ký ức mà nếu không nhắc lại anh sẽ quên bén đi.

Anh theo cha ra đồng, chỉ vác giùm cha vài bao phân mà mồ hôi rịn tay nhưng lòng anh dịu lại. Cha hay kể “Mùa này được giá. Mùa kia lúa rớt. Có năm trúng mùa mà không trúng giá…Nhưng bỏ sao đành con ơi”. Anh từng muốn đón cha lên phố. Nhưng cha lắc đầu: “Ruộng mà bỏ, nó buồn. Với cả đời cha đều ở ruộng, lên đó lấy gì mà cày cấy”.

Một tuần sau, anh ăn cơm, lần đầu sau rất nhiều năm. Hạt cơm trắng, dẻo, ấm. Anh chợt hiểu cơm không tầm thường, chỉ có người từng quên nó mới nghĩ vậy.

Những ngày gần hết bệnh, bụng anh bớt đau nhưng trong người lại sanh ra một thứ mỏi mệt khác. Không phải mệt xác mà mệt lòng, cái mệt của người đã quen sống nhanh, giờ phải chậm lại, quen ăn đồ gọn lẹ, giờ phải chờ nồi cơm sôi. Buổi sáng ở quê không giống thành phố, không có tiếng xe máy gầm rú, không có còi thúc giục mà chỉ có tiếng gà gáy đứt quãng, tiếng mái chèo khua nhẹ dưới con rạch sau nhà và tiếng cha anh trở mình rất sớm. Cha dậy từ lúc trời còn mờ sương. Ông không gọi anh. Ông quen rồi. Cả đời làm ruộng, cái đồng hồ trong người ông chỉnh theo mặt trời, không theo kim số. Anh thức dậy sau, bước ra hiên, thấy cha đang vá lại cái bao phân cũ, bao sờn, chỉ chằng chịt. Anh nhìn, tự dưng thấy nghèn nghẹn: “Cha… Sao không mua bao mới?”. Cha không ngẩng đầu: “Bao còn xài được. Bỏ uổng”.

Hai chữ “bỏ uổng” nói ra nhẹ tênh nhưng anh nghe nặng trong lòng. Ở thành phố, người ta bỏ uổng nhiều thứ lắm, bỏ uổng đồ ăn, bỏ uổng thời gian, bỏ uổng cả những mối quan hệ từng thân. Cha dắt anh ra đồng, không phải để làm gì lớn lao chỉ là đi cho biết, cho quen mùi.

Đồng mùa này vừa gặt xong. Gốc rạ còn trơ, đất nứt chân chim. Mấy đám rơm chất thành ụ, chờ đốt. Gió thổi, mùi rơm khô ngai ngái bay lên, quyện với nắng, với khói. Mùi ấy đánh thức trong anh một thứ gì rất cũ. Hồi nhỏ, cũng mùi này, những buổi trưa trốn ngủ, chạy theo đám bạn ra đồng coi người ta đốt rơm, nướng cá rô, cá lóc. Cá bắt từ mương, còn nhảy, xiên que, phủ rơm lên, chờ cháy rồi lật ra ăn, không cần muối tiêu mà vẫn ngon. Anh đứng lặng. Cha nhìn anh, cười nhẹ: “Nhớ hông con?”. Anh gật đầu. Lặng nhìn xa xăm.

Mấy bữa sau, trong xóm, người ta gặt lúa vụ muộn. Tiếng máy gặt vang rì rì, không ồn ào mà đều đặn. Lúa đổ xuống, vàng rực cả một khoảng. Anh đứng coi, thấy từng hạt lúa rơi vào bao, nghe tiếng va chạm khô khốc, tự dưng thấy tim mình đập chậm lại. Một bà trong xóm nói vui: “Giám đốc về coi gặt lúa hả?”

Anh cười nhưng nụ cười khác trước, không phải cười xã giao mà là cười hơi mắc cỡ.

Đêm, anh nằm trên cái giường tre cũ nghe côn trùng kêu ngoài vườn. Gió lùa qua cửa sổ. Anh nhớ lại những lần họp ở khách sạn sang trọng, bàn chuyện đầu tư, chuyện mở rộng thị trường mà chưa lần nào nghĩ tới hạt gạo mình ăn mỗi ngày từ đâu ra. Anh nghĩ tới cha, nghĩ tới lưng cha còng xuống theo từng mùa vụ, nghĩ tới những năm lúa trúng mà giá rớt, những năm hạn mặn, những năm lũ về bất ngờ… Cha chưa từng than, chỉ nói: “Làm ruộng là vậy đó con”. Câu nói nghe đơn giản mà gói cả một đời chịu đựng.

Những ngày cuối ở quê, anh đi quanh xóm nhiều hơn, thấy người ta phơi lúa ngoài sân, trẻ con chạy giỡn trên đống rơm, mấy con chó nằm dài bên bếp tro, mắt lim dim có con già, lông bạc, vẫn cố ngóc đầu khi có người lạ đi ngang. Anh chợt nhớ tới câu chuyện cổ từng nghe hồi còn nhỏ, chuyện con chó xin Ngọc Hoàng cho lúa ở lại. Hồi đó, anh nghe rồi quên. Giờ nhớ lại, thấy lòng mình chùng xuống. Trước ngày lên thành phố, anh ra đồng một mình. Trời chưa sáng hẳn. Sương còn phủ. Anh cúi xuống, nhặt một nắm đất. Đất mịn, ẩm, dính tay. Anh thì thầm, không biết nói với ai: “Con xin lỗi”, không biết xin lỗi quê hay xin lỗi hạt lúa hay là chính mình của những năm đã bỏ quên.

*

Thành phố đón anh bằng một buổi sáng nhiều khói. Xe cộ ken đặc. Biển quảng cáo giăng ngang trời. Người đi nhanh, nói lớn, ai cũng có vẻ bận rộn với những thứ không thể chờ. Anh trở lại văn phòng, căn phòng kính trên cao, nơi nhìn xuống chỉ thấy mái nhà bê tông. Mọi thứ vẫn vậy. Máy lạnh chạy đều. Máy pha cà phê kêu xì xì. Thư ký đưa cho anh xấp hồ sơ dày: “Anh ký giúp em mấy hợp đồng này”.

Anh gật đầu nhưng tay dừng lại ở chữ ký. Hợp đồng nhập khẩu thực phẩm chế biến sẵn, chuỗi cung ứng thức ăn nhanh, kế hoạch nhập nguyên liệu ngoại… Những chữ in đậm, rõ ràng. Trước đây, anh ký không cần nghĩ. Giờ, trong đầu anh lại hiện ra hình ảnh cha vo gạo bên bếp rơm, nước vo gạo đổ ra gốc chuối. Anh đặt bút xuống: “Cô để đó đi. Tôi cần suy nghĩ một chút”.

Thư ký ngạc nhiên nhưng không hỏi. Cả buổi sáng, anh không tập trung được. Trong đầu cứ văng vẳng tiếng máy gặt, mùi rơm cháy, mùi cơm mới. Những thứ tưởng nhỏ mà lấn át cả những con số hàng triệu đô. Anh triệu tập cuộc họp ban điều hành. Anh nói chậm, khác mọi khi: “Tôi muốn công ty xem lại định hướng”

Phòng họp im lặng. Một người lên tiếng: “Ý anh là sao?”. Anh hít một hơi: “Chúng ta đều có quê, có lúa. Tại sao cứ đi nhập những thứ xa xỉ mà bỏ quên cái nuôi lớn mình?”

Có người cười nhẹ. Có người nhíu mày. “Nhưng thưa anh, gạo lợi nhuận thấp”

Anh gật đầu: “Thấp nếu chỉ bán hạt. Nhưng cao nếu bán giá trị”

Cuộc họp kéo dài. Có tranh luận. Có phản đối. Nhưng trong lòng anh, một quyết định đã bén rễ, giống như hạt lúa khi chạm đất.

Tối đó, anh về nhà rất muộn. Anh mở vali, lấy ra một túi nhỏ cha đưa trước lúc đi, trong đó là gạo quê, hạt không đều, có hạt gãy, có hạt còn vỏ lụa. Anh vo gạo như cách cha anh hay làm. Nồi cơm sôi, mùi lan ra căn hộ kín mít, mùi ấy không quen với bê tông nhưng lại quen với anh. Mỗi muỗng cơm, anh thấy rõ hơn con đường mình sắp đi không phải con đường dễ bước nhưng là con đường chắc chắn.

Những ngày sau, anh bắt đầu đi nhiều nơi, về các vùng trồng lúa, gặp nông dân, nghe họ nói chuyện mùa màng, sâu bệnh, hạn mặn,.. Anh không nói nhiều mà chỉ lắng nghe. Anh nhận ra lúa không cần thương hại. Lúa cần được thấu hiểu.

Công ty anh bắt đầu thay đổi từ từ như nước thấm đất. Họ lập nhóm nghiên cứu giống, hợp tác với viện nông nghiệp, tìm cách làm lúa vừa năng suất, vừa giữ được hương vị xưa. Báo chí bắt đầu chú ý dự án của anh. Mấy lần được hỏi, anh chỉ cười. Trong lòng, anh nhớ tới câu chuyện con chó xin Ngọc Hoàng cho lúa ở lại. Nếu ngày xưa không có lời xin ấy, chắc giờ anh không có cơm để ăn, không có con đường để quay về.

*

Giống lúa mới không ra đời trong phòng lạnh. Nó ra đời từ những buổi chiều đứng giữa đồng, gió tạt ngang mặt, bùn lấm tới ống quần. Công ty bắt đầu xuất khẩu. Những bao gạo đầu tiên rời cảng, đi xa hơn anh từng nghĩ. Trên giấy tờ, nó chỉ là mã hàng, là trọng lượng. Nhưng trong đầu anh, mỗi bao gạo đều có ruộng, có mồ hôi, có lưng cha còng xuống giữa trưa nắng. Anh đi hội nghị quốc tế lần đầu với tư cách không phải người mua mà là người mang gạo đi giới thiệu. Hội trường lớn, ánh đèn trắng, người ta nói tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật. Anh nghe rồi tới lượt mình, anh nói chậm. Anh không khoe thành tích, không nói lợi nhuận, anh kể chuyện hạt lúa, kể rằng ở quê anh, lúa từng được trời cho bay về nhà nhưng vì con người quên ơn nên lúa ở lại dưới đất chờ người cúi xuống mà nhặt, kể rằng mỗi hạt gạo là một lần người ta chấp nhận cúi thấp mình. Có người im lặng. Có người gật đầu. Sau buổi đó, có đối tác tìm anh. Không hỏi giá trước, họ hỏi: “Anh còn giữ được giống lúa đó trong bao lâu?”. Anh đáp: “Chừng nào người trồng lúa còn thì lúa còn”.

Trên báo, người ta viết về anh, gọi anh là “người đưa gạo Việt Nam ra thế giới”. Anh đọc rồi gấp báo lại nghĩ không phải mình đưa gạo đi mà là gạo đã kéo anh đi theo.

Một lần, trong chuyến công tác xa, anh ăn cơm ở khách sạn sang trọng. Cơm nấu bằng gạo công ty anh xuất. Hạt cơm trắng, đều, đẹp. Nhưng anh chợt thấy thiếu. Anh nhớ cái nồi móp ở quê, nhớ bếp rơm, nhớ bóng cha vo gạo, không nói gì. Anh hiểu ra đi xa tới đâu, hạt cơm ngon nhất vẫn là hạt cơm mình nhớ được nguồn. Đêm đó, anh gọi về quê. “Cha ơi… lúa mình được đi xa rồi. Hôm nay đi công tác, chỗ con ở người ta nấu cơm bằng gạo quê mình”

Cha cười ở đầu dây bên kia: “Ừ. Đi xa thì tốt miễn sao nó còn nhớ nơi nó bắt đầu đi là được”.

Anh tắt máy, đứng bên cửa sổ nhìn xuống thành phố sáng đèn. Trong lòng, anh thấy yên, không phải vì thành công mà vì cuối cùng, anh không còn chê hạt cơm nữa. Anh hiểu một điều rất muộn nhưng vừa kịp. Người ta có thể đi rất xa nhưng nếu còn ăn cơm thì vẫn đang sống nhờ đất.

*

Anh về quê vào một buổi chiều cuối năm, về vì trong lòng có một chỗ trống, chỉ quê mới lấp được. Con đường đất năm xưa đã được tráng bê tông một đoạn nhưng tới khúc rẽ vào nhà, đất vẫn đỏ, vẫn hàng tre đó, vẫn con rạch nhỏ đó. Cha già hơn, lưng còng thấp hơn trước nhưng tay cha vẫn chắc khi cầm nắm gạo, khi xới cơm ra chén. Cái nồi cũ vẫn nằm trên bếp, móp thêm một chỗ nhưng cha không đổi. Bữa cơm chiều đơn giản có cơm trắng ăn với cá kho, rau luộc. Anh ăn chậm nghe hạt cơm ngọt thấm vào đầu lưỡi, nghe mùi quê phả đầy khoang miệng.

Ngoài sân, con chó, anh mua cho cha nuôi, đã già. Nó không chạy nhảy nữa, chỉ nằm đó, mắt lim dim. Mỗi lần cơm rơi, nó mở mắt ra, nhích lại gần, ăn chậm rãi như sợ uổng. Anh nhìn nó, chợt nhớ lại câu chuyện xa xưa. Chuyện con chó xin Ngọc Hoàng cho lúa ở lại. Ngày trước, anh nghe như cổ tích. Giờ, anh hiểu đó là lời dặn. Ăn cơm là nhớ ơn, nhớ ơn trời, nhớ ơn đất, nhớ ơn người cúi xuống trước mình.

Khi xe lăn bánh đưa anh trở lại thành phố, anh nhìn lại thấy con chó già đứng ở cổng, đuôi khẽ quẫy, thấy bếp khói bay lên, thấy mái nhà thấp mà ấm áp như một thời xa xưa gọi về. Anh biết, mình sẽ còn đi. Gạo cũng sẽ còn đi xa. Nhưng có một thứ ở lại trong nồi cơm, trong mùi khói rơm, trong cách người ta cúi xuống mà nhặt hạt cơm rơi và ở lại cả trong anh. Giữa đời rộng lớn chừng nào con người còn biết ăn cơm cho đàng hoàng thì chừng đó, đất vẫn chưa bị phụ./.