Tùy bút của nhà văn Đào An Duyên: Tôi thuộc thế hệ có lẽ là cuối cùng được trải nghiệm tất cả những công việc đồng áng truyền thống. Từ cấy hái cày bừa, gặt lúa và chế biến lúa gạo. Cho đến khi có máy móc giải phóng bớt sức lao động của con người, tôi mới thấm và thấu hiểu nỗi vất vả của người nông dân bao đời


Bài dự thi “Lúa gạo Việt – Nguồn cội và tương lai”

TỪ ĐÔI TAY MẸ

ĐÀO AN DUYÊN (Gia Lai)

Mỗi lần nằm bên mẹ, tôi hay mân mê đôi bàn tay của bà. Đôi bàn tay có những đường gân gồ ghề, khớp ngón tay phình to hẳn ra so với lóng tay, lòng bàn tay nổi những cục chai, khi xoa vào có cảm giác ram ráp, những móng tay bám phèn ngả màu ố vàng và luôn bị xước lam nham… Với tôi, đó là đôi bàn tay đẹp nhất trong cuộc đời này.

Quê tôi ở vùng chiêm trũng. Tôi hay đùa với bạn bè rằng mình sinh ra ở gốc rạ. Khi ban mai thức dậy, mở cửa là nhìn thấy lúa, đêm nằm ngủ trong hương lúa và tiếng sóng lúa lao xao. Người quê tôi, sinh ra từ đồng ruộng, cả cuộc đời chân ngập trong bùn ruộng, tay nhuốm màu phèn chua, rồi cuối đời, nằm xuống giữa ruộng đồng thênh thênh nghe lúa hát. Nhắc đến cây lúa là người ta nhắc đến vùng “quê hương năm tấn”.

Tôi không còn nhớ được chính xác mình bắt đầu những bước chân đầu tiên lội xuống bùn ruộng là khi nào, chỉ còn nhớ đó là khi tôi còn rất nhỏ, chưa đủ sức để nhổ cây mạ từ dưới bùn lên, cũng chưa đủ khéo léo để cắm cây lúa xuống ruộng. Mẹ để tôi ở một đầu quang gánh, rồi gánh theo tôi trong mỗi buổi làm đồng, như một cách kết hợp để trông tôi. Mẹ cặm cụi việc đồng áng, tôi tha thẩn chơi với cào cào, châu chấu, những cây cỏ gà và đám hoa dại nơi bờ ruộng. Chân tay tôi cũng lấm lem bùn đất và dần nhuốm màu phèn.

Khi tôi cứng cáp hơn một chút, mẹ bắt đầu giao việc. Việc đơn giản nhất là vào mùa cấy, tôi đứng ở một bên bờ ruộng để cắm cọc chăng dây cấy giúp mẹ. Quê tôi vẫn canh tác lúa theo lối cấy truyền thống, tức là phải qua rất nhiều công đoạn. Ủ lúa nảy mầm rồi gieo xuống ruộng mạ được cày bừa thật kĩ. Mạ gieo dày, đủ ngày đủ tháng thì nhổ lên, bó thành từng bó chuyển ra ruộng để cấy. Cha tôi đóng quân nơi phương Nam, mình mẹ lo từ việc đồng áng đến việc cửa nhà, đôi tay mẹ chẳng bao giờ ngơi nghỉ. Và tôi trở thành người phụ việc cho mẹ từ khi nào cũng chẳng thể nhớ.

Tôi cứ chăm chăm đứng một bên bờ ruộng, chờ mẹ cấy từ bờ bên kia qua bờ nơi tôi đứng, rồi lại từ bên bờ tôi đứng qua bờ bên kia. Cứ xong hai hàng lúa qua lại thì mẹ nhổ chiếc cọc buộc sợi dây cước dùng để căn cho thẳng hàng lên, cắm qua hàng mới. Tôi ở bờ ruộng bên này cũng cố hết sức nhổ chiếc cọc tre be bé buộc đầu sợi dây lên, rồi cắm xuống vị trí theo đúng ý mẹ chỉ. Cho đến khi tôi biết lội xuống ruộng, cắm những cây lúa đầu tiên xuống bùn, ruộng đồng với tôi đã thân thiết như một người bạn.

Mẹ tôi chi chút và rất dè sẻn. Đó là phẩm chất chung của tất cả những người phụ nữ thời mà nơi nào cũng khó khăn. Chúng tôi thấm trải cảnh mùa giáp hạt, phải chạy ăn từng bữa. Mẹ dạy chúng tôi cách tích cốc phòng cơ, cách ăn bữa sáng phải lo cho bữa tối. Mảnh vườn trước nhà quanh năm chẳng lúc nào vắng đi màu xanh.

Nhà tôi nằm sát bên sông, mùa bão lũ vườn hay bị ngập. Vì thế, vụ hè thu, mẹ tận dụng nguồn nước để cấy lúa, còn vụ đông xuân thì trồng xen canh các loại rau và cây hoa màu khác, vừa để cải tạo đất, vừa tạo thêm lương thực và nguồn thu nhập. Việc nhà nông, từ sớm tinh mơ cho đến tối nhọ mặt người, lúc nào cũng gắn mình với ruộng đồng. Bốn mùa, bàn tay mẹ lúc nào cũng lấm lem bùn đất, đó là ấn tượng ghim đậm sâu vào trí nhớ bé thơ của tôi.

Tôi thuộc thế hệ có lẽ là cuối cùng được trải nghiệm tất cả những công việc đồng áng truyền thống. Từ cấy hái cày bừa, gặt lúa và chế biến lúa gạo. Cho đến khi có máy móc giải phóng bớt sức lao động của con người, tôi mới thấm và thấu hiểu nỗi vất vả của người nông dân bao đời. Tính từ lúc hạt lúa được đem ngâm nước để chuẩn bị gieo mạ, đến lúc thu hoạch về cất đặt, chúng tôi đã phải ghi nhớ biết bao nhiêu kiến thức nhà nông.

Hạt giống được cất cẩn thận từ mùa trước, thường thì mẹ tôi sẽ chọn những bông lúa to nhất, chắc hạt nhất, vò lúa bằng chân để tách hạt khỏi rơm rồi phơi riêng. Sau đó đựng lúa trong một chiếc bồ nhỏ đan bằng tre, trộn thêm lá xoan vào để chống mối mọt, rồi gác lên chỗ cao ráo. Thỉnh thoảng mẹ tôi lấy bồ lúa giống ra kiểm tra, có khi còn đổ ra phơi, rồi lại cất vào chỗ cũ. Lúa nếp thì bó thành từng chùm treo lên gác bếp. Hạt giống được coi sóc, chăm chút tỉ mỉ và cẩn thận, bởi nó là tất cả vốn liếng và hy vọng cho mùa sau.

Nhà văn Đào An Duyên - Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Tôi từng được trải nghiệm việc xay giã gạo bằng phương pháp thủ công trong quãng thời gian khá dài. Lúa bỏ vào cối xay để tách trấu, rồi hạt gạo xay thô ấy được giã trong cối để tách phần cám. Những việc ấy thường được tranh thủ làm ban đêm, bởi ngày còn bận việc đồng áng. Thế nên có những đêm rất khuya vẫn nghe tiếng rù rì cối xay lúa và âm thanh lốp cốp giã gạo vang lên trong xóm. Cây lúa sau khi gặt chẳng bỏ đi một bộ phận nào. Ngoài hạt gạo là mục tiêu chính để làm thực phẩm hàng ngày, cám để nuôi lợn, phần vỏ trấu đem rải xuống ruộng vườn bổ sung dinh dưỡng cho đất, rạ rơm làm chất đốt, ngay cả tro bếp cũng được đem bón cho ruộng vườn… Đời một cây lúa quẩn quanh với con người thân thiết như vậy.

Từ nhỏ, mẹ luôn dạy chúng tôi biết quý hạt lúa hạt gạo. Chẳng phải tự nhiên mà dân gian đã coi đó là hạt ngọc của trời. Bây giờ, nghĩ đến mẹ là tiềm thức tôi bật ngay dậy bóng người lúc nào cũng nhập nhòa. Từ lúc trời còn chưa tỏ mặt người, mẹ dậy nhóm bếp lửa, chẳng có thức gì cho bữa sáng thì cũng đặt ấm nước. Nấu bằng rạ rơm nên ngọn lửa thường bùng to. Sóng lửa chờn vờn gương mặt mẹ từ mùa đông qua mùa hạ. Rồi mẹ ra vườn bắt đám sâu cho mấy luống rau, tranh thủ những việc gì đó, để còn ra đồng. Khi mẹ trở về cũng là lúc đã nhọ mặt người. Bóng mẹ thập thững trên con dốc cuối làng, phía sau lưng mẹ là cánh đồng, nhòa nhạt.

Có những đêm, mùa mưa bão, mà những cơn bão thường ập vào giữa đêm. Mẹ bật dậy, quáng quàng cầm vội chiếc đèn bão soi đường, che chắn cho cho lợn gà rồi lao ra ruộng. Đó là thời điểm lúa vừa chắc hạt, chưa thể thu hoạch vì còn xanh. Mẹ buộc túm chúng lại thành từng chùm nhỏ để chúng khỏi bị đổ rạp xuống. Chẳng gì xót xa hơn khi nhìn những ruộng lúa bị ngã rạp ngâm mình trong nước. Ngày xưa thông tin dự báo thời tiết còn lạc hậu, không cập nhật kịp thời như bây giờ. Nhiều khi bão đến, trở tay không kịp.

Có những năm hoàn lưu sau bão, mưa dai dẳng, lúa ngập trong nước đến mấy ngày, mẹ tặc lưỡi: “Xanh nhà hơn già đồng, cắt về được bông nào thì được!”. Rồi mẹ dầm mình trong nước mò từng bông lúa chỉ mới đỏ đuôi, buộc lại thành từng túm treo lên cho ráo nước, xong lấy xuống ủ thành đống cho lúa chín thêm rồi mới tách hạt. Đó là những năm mất mùa, nhìn thấy cái đói lơ lửng ngay trước mắt…

Tôi đi qua bao mùa giông bão, bao nhiêu cơn đói giáp hạt co thắt chiếc dạ dày lép kẹp. Những đứa trẻ trong xóm da lưng dính liền da bụng, đi qua những cơn đói để lớn lên, để thấu hiểu tận cùng ý nghĩa của miếng cơm manh áo. Từ đó mà biết vun vén, biết cất đặt, biết dụm dành, biết sớt chia. Vụ thu hoạch mới, mẹ tôi luôn thành kính xới bát cơm đầu mùa dâng cúng ông bà tổ tiên. Vừa là để báo cáo, vừa là để cầu mong, vừa như lời mời để người cõi khác cũng được chung vui hương cơm gạo mới. Nền văn minh lúa nước sản sinh ra bao nhiêu nét văn hóa thật đẹp đẽ, đời nối đời, để cháu con, từ hạt gạo mà thêm thương mến, thêm tự hào về quê hương xứ sở, về cội nguồi tiên tổ của mình.