Thử hình dung một buổi chiều ở đồng bằng. Chiếc máy gặt vừa đi hết đường ruộng cuối cùng. Những bao lúa nằm dọc bờ đê. Bà con ngồi tính lại tiền giống, tiền phân, tiền thuốc, tiền bơm nước, tiền thuê máy.


Hạt Gạo Việt Nam
Trước Yêu Cầu Đổi Mới

Từ sản lượng đến chất lượng, giá trị và trách nhiệm môi trường

Có mặt vào một buổi chiều ở Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi chứng kiến chiếc máy gặt vừa đi hết đường ruộng cuối cùng. Những bao lúa nằm xếp lớp dọc bờ đê. Giữa cánh đồng rạ mới, bà con nông dân ngồi nhẩm tính lại tiền giống, tiền phân, tiền thuốc, tiền bơm nước, và tiền thuê máy.

Vụ này trúng hơn vụ trước, nhưng tiền còn lại chưa chắc nhiều hơn. Ngoài kia, người mua vẫn hỏi giá. Trong nhà, người trồng lúa còn bao nhiêu khoản phải lo. — Lời bộc bạch của một lão nông Miền Tây chia sẻ với chúng tôi

Cùng một hạt gạo, nhưng có nhiều câu hỏi. Từ người làm ra đến người sử dụng, từ bờ ruộng đến bàn ăn, từ sinh kế hôm nay đến trách nhiệm ngày mai. Có lẽ hành trình đổi mới cần bắt đầu bằng câu hỏi giản dị: Làm sao để mỗi hạt gạo mang lại nhiều hơn cho con người, đồng thời lấy đi ít hơn từ thiên nhiên?

Đi tiếp từ những mùa vàng

Có một thời, mong ước lớn nhất là đủ gạo ăn. Tăng năng suất, tăng sản lượng là khát vọng của cả xã hội. Những thế hệ nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật, doanh nghiệp và bà con nông dân đã làm nên bước chuyển đáng tự hào, từ nỗi lo thiếu lương thực đến khả năng cung ứng cho thị trường trong nước và thế giới.

Trước đây, đứng nhìn cánh đồng, chúng tôi thường nghe người ta hỏi nhau được mấy tấn một héc-ta. Bây giờ cần hỏi thêm: Sau khi trừ chi phí, bà con còn lại bao nhiêu? Mảnh đất có khỏe hơn không? Nguồn nước được sử dụng thế nào? Sản phẩm có đến được thị trường phù hợp không? Người trẻ có thấy tương lai với nghề trồng lúa không?

Đổi mới không phải quay lưng với năng suất, mà là đặt năng suất trong một thước đo rộng hơn: hiệu quả kinh tế, chất lượng cuộc sống, sự bền vững sinh thái và khả năng chống chịu trước rủi ro. Bao lúa đầy là niềm vui của một mùa. Mảnh đất còn khỏe, người nông dân còn muốn gắn bó mới là hy vọng của nhiều mùa.

Chất lượng khởi đầu từ câu hỏi của thị trường

Có loại gạo phù hợp bữa cơm gia đình, có loại thích hợp cho nhà hàng, chế biến thực phẩm hoặc những cộng đồng có tập quán ẩm thực riêng. Không phải mọi hạt gạo đều cần đi vào phân khúc đắt nhất. Điều quan trọng là hiểu mình sản xuất cho ai, với tiêu chuẩn nào, trong điều kiện nào và giá trị nào có thể tạo ra.

Chất lượng không hình thành ở công đoạn đóng bao. Một thương hiệu mạnh bắt đầu từ sự nhất quán của nhiều người. Quá trình đó là một chuỗi liên kết chặt chẽ:

1. Nền tảng canh tác

Bắt đầu từ việc chọn đúng giống, quản lý đất, nước, lịch thời vụ, dinh dưỡng và quản lý dịch hại thân thiện.

2. Thu hoạch & Sau thu hoạch

Thu hoạch đúng độ chín, đưa vào sấy kịp thời, xay xát và bảo quản đúng chuẩn để không làm đứt gãy chất lượng.

3. Tổ chức & Phân phối

Hợp tác xã bảo đảm đồng nhất, doanh nghiệp minh bạch thông tin, nhà phân phối giữ đúng cam kết bảo vệ thương hiệu.

Giá trị phải trở về với người trồng lúa

Muốn đổi mới, cần chuyển từ tư duy tối đa hóa sản lượng sang tối ưu hóa giá trị ròng. Một lượng giống gieo sạ được tính lại, một lần bón phân đúng nhu cầu, một đợt phun thuốc không cần thiết được tránh đi, một khâu thất thoát sau thu hoạch được khắc phục đều có thể cải thiện lợi nhuận mà không cần tăng sản lượng.

Tư duy Sản lượng

(Rê chuột để lật)

Tập trung bón nhiều phân, sạ dày, phun thuốc phòng ngừa liên tục để đạt tối đa số tấn/ha. Chi phí vật tư cao, nguy cơ rủi ro thị trường lớn.

Tư duy Giá trị ròng

(Rê chuột để lật)

Giảm thiểu chi phí đầu vào, ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp. Sản lượng có thể ổn định hoặc giảm nhẹ nhưng lợi nhuận thực tế thu về cao hơn.

Giảm chi phí mới là một phía. Phía còn lại là nâng vị thế thương lượng của người làm ra hạt gạo. Khi chỉ có một tờ giấy nhận tiền cọc, khi tiêu chuẩn chất lượng chưa rõ, khi giá thay đổi sát ngày giao hàng, người nông dân dễ chịu thiệt. Liên kết không thể chỉ là một chữ ký đầu vụ; đó phải là sự chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các bên.

Ghi nhận tại các địa phương, chúng tôi nhận thấy một hộ có thể chăm sóc rất giỏi thửa ruộng của mình, nhưng khó tự điều tiết nguồn nước cả vùng hay thương lượng với thị trường quốc tế. Cánh đồng có tổ chức không xóa đi sự chủ động của từng hộ. Ngược lại, hợp tác giúp từng hộ có thêm những năng lực mà đứng một mình khó có được: mua chung vật tư, sử dụng chung dịch vụ cơ giới, thống nhất quy trình, bán hàng theo hợp đồng.



Màu xanh không nằm ở nhãn bao bì

Để màu xanh hiện diện trong cách làm, ở những vùng có điều kiện phù hợp, tưới ngập khô xen kẽ có thể giúp tiết kiệm nước và giảm phát thải mê-tan. Nhưng không nên lấy một quy trình làm chiếc áo mặc đồng loạt cho mọi cánh đồng. Đất khác nhau, nguồn nước khác nhau, mức độ chủ động thủy lợi cũng khác nhau.

Cần tránh một nghịch lý: xã hội hưởng lợi từ môi trường tốt hơn nhưng toàn bộ chi phí chuyển đổi lại đặt lên vai người nông dân. Nếu canh tác phát thải thấp đòi hỏi thêm ghi chép, thiết bị, thì phải tính đến ai hướng dẫn, ai đầu tư, ai cùng chia sẻ chi phí.

Cây lúa không chỉ cho hạt gạo. Rơm có thể được thu gom để trồng nấm, chăn nuôi, hay trả lại dinh dưỡng cho đất. Khi ngành lúa gạo phát triển thành một hệ sinh thái kinh tế, cơ hội việc làm có thể mở rộng cho cả người không trực tiếp cầm liềm, lái máy.

GÓC DỮ LIỆU: ĐỀ ÁN 1 TRIỆU HÉC-TA LÚA CLC

Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030 đang mở ra cơ hội tổ chức lại ngành hàng ở quy mô lớn:

  • Không chỉ là diện tích: Giá trị đo đếm qua sự thay đổi trong cách canh tác, cách liên kết và phân chia giá trị.
  • Ứng dụng công nghệ sát thực tiễn: Dự đoán sản lượng, đặt lịch cơ giới, cảnh báo mặn/hạn, nhật ký sản xuất điện tử.
  • Trách nhiệm môi trường: 1 héc-ta tham gia là 1 héc-ta có dữ liệu, thu nhập tốt hơn và trách nhiệm rõ hơn với sinh thái.
  • Hỗ trợ đồng bộ: Đòi hỏi hệ thống chính quyền, đặc biệt cấp xã, sát cánh hỗ trợ kết nối, thị trường và mùa vụ.

Thương hiệu gạo Việt là một lời hứa

Sự đa dạng về giống lúa, vùng sinh thái và văn hóa ẩm thực là một nguồn lực. Nhưng muốn nguồn lực ấy thành thương hiệu, phải biết kể câu chuyện có căn cứ. Không thể lấy một câu chuyện đẹp để che đi một chuỗi liên kết thiếu công bằng.

Muốn gạo Việt được tôn trọng, phải tôn trọng cả người làm ra gạo. Muốn khách hàng tin vào chữ "xanh", phải có bằng chứng cho chữ "xanh". Thương hiệu không chỉ được tạo nên bằng ngân sách quảng bá, mà còn bằng sự tử tế được lặp lại qua nhiều mùa vụ.

Trong ký ức nhiều gia đình, hạt gạo gắn với bữa cơm có đủ người, với mùi rơm sau mùa gặt. Nếu chỉ nghĩ đến hạt gạo như một hàng hóa, chúng ta dễ bỏ quên những giá trị ấy. Cũng cần nghĩ tới người trẻ. Phải tạo ra công việc có thu nhập, có công nghệ, có cơ hội sáng tạo: từ kỹ thuật viên đồng ruộng đến chuyên gia dữ liệu nông nghiệp.

Thuận thiên không phải là buông xuôi trước thiên nhiên, mà là hiểu giới hạn của tự nhiên để tổ chức sản xuất thông minh hơn.

Festival Lúa gạo có thể là dịp nhìn lại thành tựu. Nhưng sẽ ý nghĩa hơn nếu sau những gian trưng bày còn có cuộc gặp của người trồng với người mua, của hợp tác xã với nhà khoa học. Có lẽ cần tập thói quen đặt cạnh câu hỏi "Năm nay làm ra bao nhiêu gạo?" những câu hỏi khác: "Người trồng lúa sống tốt hơn chưa? Đất và nước được gìn giữ ra sao?".

Hạt gạo nuôi con người. Cùng chung suy nghĩ với tác giả Lê Minh Hoan, chúng tôi tin rằng cách làm ra hạt gạo phải nuôi dưỡng cả lòng tin, sự công bằng, đất đai và tương lai. Để khi một mùa gặt khép lại, điều đầy thêm không chỉ là kho lúa, mà còn là hy vọng của người trồng.

Tác giả Lê Minh Hoan