Gần 420.000ha là con số gây ấn tượng khi nói về tiến độ của Đề án 1 triệu hécta. Nhưng điều đáng quan ngại là chỉ khoảng 67.648ha trong số đó được xác định đã áp dụng đầy đủ các tiêu chí của quy trình trong thực hiện Đề án.
Theo ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) khi trao đổi với Nông Thôn Việt, thì những con số đó đặt ra một loạt câu hỏi mà ngành lúa gạo cần trả lời trước khi nói đến đích 1 triệu hécta.
Phải tự hỏi những con số đẹp ấy nói lên điều gì?
![]() |
| Ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) |
PV: Thưa ông, 420.000ha đã tham gia Đề án, gần một nửa mục tiêu 1 triệu hécta vào năm 2030, nhưng chỉ 67.648ha áp dụng đầy đủ các tiêu chí quy trình. Có phải chúng ta đang có một khoảng cách khá lớn giữa “tham gia” và “chuyển đổi thực chất”?
Ông Lê Thanh Tùng: Đúng. Và tôi cho rằng đây là điều phải nhìn thẳng. 420.000ha là một con số đáng mừng về quy mô. Nhưng chưa thể nói 420.000ha đều đã sản xuất theo đầy đủ quy trình của Đề án.
Chúng ta cần phân biệt rõ giữa tiêu chí của quy trình và tiêu chí của Đề án.
Đề án không chỉ là chuyện nông dân áp dụng một vài kỹ thuật trên đồng ruộng. Nó còn có những tiêu chí phi công trình như liên kết sản xuất, nâng cao năng lực hợp tác xã, đào tạo nguồn nhân lực. Đồng thời có các tiêu chí công trình liên quan đến thủy lợi, quản lý nước, quản lý phân bón, đầu tư thiết bị, công nghệ, hạ tầng giao thông, logistic… Vì vậy, 67.648ha mới là một chỉ dấu để chúng ta nhìn vào chất lượng thực hiện ở góc độ áp dụng quy trình canh tác.
Bởi nếu chỉ báo cáo số diện tích tham gia, mà không đánh giá mức độ tuân thủ, thì rất dễ tạo ra một bức tranh đẹp về số lượng nhưng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng.
Như vậy, có thể nói thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là “làm sao có thêm diện tích”, mà là “làm sao để diện tích đã tham gia thực sự có sự chuyển đổi”. Và đó là bước khó hơn. Bởi vì mở rộng diện tích có thể thực hiện bằng việc đưa thêm nông dân, hợp tác xã vào chương trình. Nhưng thay đổi cách sản xuất của người dân là một câu chuyện hoàn toàn khác.
Gạo chất lượng cao chỉ là giống thì chưa đúng, chưa đủ
PV: Ông từng nhấn mạnh rằng “chất lượng cao” không đơn giản là dùng giống tốt. Vậy điều cốt lõi mà Đề án cần thay đổi ở người nông dân là gì?
Ông Lê Thanh Tùng: Thực tế khoảng 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã sử dụng giống chất lượng cao. Như vậy, nếu nói chất lượng cao chỉ là giống thì chưa đúng, chưa đầy đủ. Điều chúng ta cần thay đổi là cả một quy trình thâm canh hay đúng hơn là cả một gói kỹ thuật đồng bộ.
Ví dụ, trước đây nông dân có thể gieo sạ với lượng giống rất cao, sử dụng không hợp lý phân bón, phòng trừ dịch hại không đúng… Nhưng các mô hình của Đề án đã chứng minh có thể giảm 30-50% lượng giống gieo sạ, từ mức khoảng 200kg/ha xuống 100-150kg, thậm chí 50-60kg/ha trong một số mô hình áp dụng công nghệ. Phân bón hóa học có thể giảm 20-30%. Thuốc bảo vệ thực vật giảm 2-3 lần phun. Nước tưới giảm 20-40% nhờ kỹ thuật ngập khô xen kẽ…
Những kết quả trên là sự thay đổi của một gói kỹ thuật được gọi là chất lượng cao kết hợp khoa học, công nghệ, thiết bị, máy móc. Nếu những thay đổi đó được duy trì, nó không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn giảm phát thải.
PV: Nhưng kỹ thuật đã chứng minh hiệu quả, tại sao vẫn khó nhân rộng?
Ông Lê Thanh Tùng: Đây là một câu hỏi khó.
Có lẽ vì nông dân không thay đổi chỉ vì một kỹ thuật được chứng minh là đúng. Họ chỉ thật sự thay đổi khi thấy lợi ích rõ ràng và ổn định. Ở đây không còn chỉ là câu chuyện kết quả kỹ thuật, mà còn là việc nhận thức của nông dân, thực trạng các mối liên kết, câu chuyện chuỗi ngành hàng lúa gạo, sự quan tâm xây dựng vùng nguyên liệu...
Nếu giảm giống, giảm phân, giảm thuốc mà lợi nhuận tăng, tiêu thụ hàng hóa ổn định thì họ sẽ làm. Trong các mô hình, lợi nhuận tăng thêm có thể đạt khoảng 10 triệu đồng/ha nhờ giảm chi phí và tăng năng suất. Đó mới chỉ là động lực mạnh nhất để thay đổi hành vi.
Ai sẽ trả tiền cho “Gạo Việt xanh phát thải thấp"?
PV: Như ông phân tích, để có được hạt “Gạo Việt xanh phát thải thấp” thì phải thay đổi việc sản xuất lúa gạo truyền thống và để lưu thông được trên thị trường thì cần phải thực hiện thêm nhiều công đoạn về nhãn hiệu, thương hiệu và tất nhiên sẽ thêm chi phí cho nhiều khâu trung gian. Vậy, ai sẽ trả tiền cho “Gạo Việt xanh phát thải thấp”? Thị trường có sẵn sàng trả thêm tiền hay không?
Ông Lê Thanh Tùng: Đây là bài toán chúng ta phải giải. Người tiêu dùng có thể quan tâm đến gạo tốt cho sức khỏe, bao bì đẹp, gạo có chỉ số đường huyết thấp và một số nhóm gạo đặc thù. Nhưng quan tâm không đồng nghĩa với việc họ sẵn sàng trả thêm tiền.
Cho nên, chúng ta phải nghiên cứu thị trường. Không thể cứ sản xuất ra một sản phẩm rồi mới hỏi thị trường có mua không. Công tác truyền thông, tăng sự tiếp cận của người tiêu dùng với các loại gạo là điều cần thiết. Vấn đề lại tiếp tục đặt ra là ai sẽ là người truyền thông?
PV: Nghĩa là “xanh” tự nó chưa tạo ra giá trị nếu thị trường không trả tiền?
Ông Lê Thanh Tùng: “Xanh” phải được chuyển thành giá trị kinh tế. Đó có thể là giảm chi phí sản xuất. Có thể là nâng chất lượng. Có thể là mở được thị trường mới. Có thể là tạo dựng thương hiệu. Và nếu đủ điều kiện thì có thêm giá trị từ giảm phát thải, nhưng không nên xem tín chỉ carbon là mục tiêu duy nhất.
![]() |
| Gạo "xanh" từ lúa giảm phát thải, tự nó không tạo ra giá trị, nếu không có chỗ đứng trên thị trường. |
PV: Vậy có phải ngành lúa gạo cần chuyển từ tư duy “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất thứ thị trường sẵn sàng trả tiền”?
Ông Lê Thanh Tùng: Tôi nghĩ đó là điều rất quan trọng.
PV: Thời gian qua, tín chỉ carbon được nhắc đến như một trong những kỳ vọng lớn của Đề án. Nhưng ông từng nói không nên “chăm chăm” bán tín chỉ carbon. Vì sao?
Ông Lê Thanh Tùng: Bởi vì nếu nhìn Đề án chỉ qua tín chỉ carbon thì sẽ bỏ qua những giá trị lớn hơn. Ví dụ, chúng ta giảm lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới. Những khoản tiết kiệm đó tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất.
Chúng ta tổ chức lại hợp tác xã, doanh nghiệp và vùng nguyên liệu. Đó là giá trị lâu dài. Chúng ta cải thiện logistics, thủy lợi, quản lý nước. Đó cũng là giá trị nền tảng. Carbon chỉ là một phần trong bức tranh đó. Hơn nữa, muốn có tín chỉ carbon thì phải chứng minh được lượng phát thải giảm bằng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm tra – MRV. Hiện hệ thống MRV vẫn đang được hoàn thiện.
PV: Có nghĩa là trước khi nói “bán được bao nhiêu tín chỉ carbon”, chúng ta phải trả lời được câu hỏi “đo được bao nhiêu và chứng minh được bao nhiêu”?
Ông Lê Thanh Tùng: Chính xác. Và quan trọng hơn, nguồn thu đó phải quay trở lại chuỗi sản xuất, đặc biệt là người nông dân.
Phải có chuỗi giá trị hoàn chỉnh
PV: Từ những phân tích của ông tại hội thảo “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và giải pháp khoa học, công nghệ trong sản xuất lúa phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long” ngày 2/10 vừa qua tại Trường đại học Cửu Long cho thấy, nếu không tổ chức lại chuỗi, 1 triệu ha có thể đạt nhưng ngành lúa gạo vẫn chưa đổi. Theo ông, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở kỹ thuật, thị trường hay tổ chức sản xuất?
Ông Lê Thanh Tùng: Tôi cho rằng tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi là một trong những vấn đề lớn nhất. Chúng ta có kỹ thuật. Các mô hình đã chứng minh. Nhưng một vài trăm hecta làm tốt không khó bằng việc tổ chức hàng nghìn, hàng chục nghìn hecta cùng sản xuất theo một quy trình. Muốn vậy phải có hợp tác xã đủ mạnh, doanh nghiệp tham gia thực chất, ngân hàng tham gia bằng tín dụng phù hợp.
VIETRISA đang hướng tới việc thành lập các liên minh doanh nghiệp nông nghiệp, mỗi liên minh đảm nhận khoảng 5.000-10.000ha để xây dựng tiêu chí và quy chế chung. Điều này khác với việc chỉ ký một hợp đồng mua bán lúa. Chúng ta phải đi đến liên kết chuỗi giá trị.
PV: Nhưng để có chuỗi giá trị, doanh nghiệp cũng cần nhìn thấy lợi ích. Làm thế nào để doanh nghiệp không chỉ tham gia khi lúa đến kỳ thu hoạch?
Ông Lê Thanh Tùng: Doanh nghiệp phải tham gia từ đầu. Đã có nhiều doanh nghiệp hiện nay làm như vậy. Từ giống, quy trình, vùng nguyên liệu, tín dụng, thu hoạch, chế biến đến thị trường. Bởi nếu doanh nghiệp chỉ xuất hiện ở khâu cuối cùng thì không thể gọi đó là chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Không chỉ là đề án của ngành lúa gạo
PV: Thưa ông, nếu bỏ qua mục tiêu diện tích, ông cho rằng điều quan trọng nhất mà Đề án 1 triệu ha phải tạo ra đến năm 2030 là gì?
Ông Lê Thanh Tùng: Làm ra một cách sản xuất lúa khác. Không phải chỉ có thêm năng suất, sản lượng nhiều hơn. Điều cần là phải giảm chi phí, tăng hiệu quả, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và không tác động tiêu cực đến biến đổi khí hậu. Càng cần hơn là phải có vùng nguyên liệu ổn định, có doanh nghiệp tham gia, có thị trường. Và cuối cùng là người nông dân phải được hưởng lợi từ những hạt gạo chất lượng, có giá trị cao hơn.
Thực tế, ĐBSCL đang thay đổi rất nhanh. Chế độ nước, nhiệt độ, lượng mưa, xâm nhập mặn đều thay đổi. Chúng ta không thể tiếp tục làm lúa bằng tư duy của vài chục năm trước. Vì vậy, Đề án 1 triệu ha không chỉ là đề án của ngành lúa gạo. Theo tôi, đó là một thử nghiệm rất lớn về cách tổ chức lại nền sản xuất nông nghiệp ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu.
Nhiều người cứ băn khoăn: “Bao giờ đủ 1 triệu ha?”. Bởi nếu chỉ cần đạt con số, bài toán không quá khó. Câu hỏi khó hơn là: bao nhiêu hecta trong số đó thực sự thay đổi cách sản xuất? Bao nhiêu hecta giảm được chi phí? Bao nhiêu hecta giảm được phát thải và có thể chứng minh bằng một hệ thống MRV đáng tin cậy? Bao nhiêu hecta có liên kết ổn định với doanh nghiệp? Bao nhiêu hecta tạo ra sản phẩm mà thị trường chấp nhận trả giá cao hơn?
Và cuối cùng, điều phải hỏi là bao nhiêu phần giá trị được giữ lại cho người nông dân? Bởi 1 triệu ha không nên là đích đến của một chương trình đếm diện tích. Nó phải là quy mô đủ lớn để thay đổi cách ngành lúa gạo Việt Nam tạo ra giá trị.
Từ một nền sản xuất từng quen với câu chuyện “được mùa mất giá”, ĐBSCL và cả Việt Nam chúng ta nữa, đều đang đứng trước cơ hội chuyển sang một mô hình khác: làm ra ít chi phí hơn, ít phát thải hơn nhưng tạo ra giá trị cao hơn. Nếu làm được điều đó, 1 triệu ha sẽ không chỉ là một con số. Nó sẽ là dấu mốc của một cuộc tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam.
Xin cảm ơn ông.
Diễm Chi (thực hiện)



