Có lần, giữa một cánh đồng ở Đồng Tháp Mười, một người nông dân lớn tuổi cúi xuống, nắm một nắm đất rồi chậm rãi nói: “Đất này nuôi mình mấy chục năm rồi. Giờ tới lúc mình phải biết nuôi lại đất”.

Câu nói mộc mạc ấy gợi ra nhiều điều. Bao thế hệ đã lớn lên từ những mùa lúa. Hạt gạo dựng nên mái nhà, nuôi con trẻ đến trường, mở những con đường, thắp sáng những xóm làng. Hạt gạo đi qua bến sông, nhà máy xay xát, kho hàng, cảng biển, ri có mặt trong những bữa cơm ở nhiều quốc gia.

Nhưng đằng sau màu xanh của cánh đồng hôm nay, người nông dân cũng nhận ra đất không còn khỏe như trước. Nguồn nước trở nên thất thường. Chi phí mỗi vụ một cao. Giá lúa có lúc tăng, lúc giảm. Một mùa trúng chưa chắc đã là một mùa vui, bởi sau khi trừ tiền giống, phân bón, thuốc, bơm nước, thuê máy và công lao động, phần còn lại đôi khi không nhiều như người ngoài vẫn nghĩ.

Đồng bằng sông Cửu Long đã làm nên một kỳ tích.

Nhưng lịch sử không bao giờ dừng lại ở một kỳ tích.

Câu hỏi của hôm nay không còn chỉ là làm ra thêm bao nhiêu triệu tấn lúa, bao nhiêu tấn cá, bao nhiêu trái cây. Câu hỏi lớn hơn là mỗi héc-ta đất, mỗi mét khối nước và mỗi mùa vụ đã tạo ra bao nhiêu giá trị; giá trị ấy được chia sẻ ra sao; đất có tiếp tục khỏe, nước có tiếp tục lành và người nông dân có thể sống tốt hơn trên chính quê hương mình hay không.

Khi cánh đồng biết đi theo con nước

Muốn hiểu cuộc chuyển đổi của Đồng bằng hôm nay, có lẽ phải trở về với những mùa nước của ngày xưa.

Trước khi có những cánh đồng bằng phẳng chạy đến tận chân trời, vùng đất này là một không gian của sông, biển, rừng tràm, đầm lầy, bưng biền và những dải đất cao ven sông. Phù sa từ dòng Mekong bồi đắp qua hàng nghìn năm, tạo nên một vùng đất trẻ, luôn chuyển động theo con nước, thủy triều và mùa lũ.

Trong không gian ấy, nhiều cộng đồng cư dân đã cùng khai phá, lập làng và tạo dựng nên diện mạo văn hóa phương Nam. Những phum sóc của đồng bào Khmer gắn với ruộng lúa, ao nước và mái chùa. Những lớp cư dân Việt men theo sông rạch về phương Nam mở đất. Cộng đồng người Hoa góp phần hình thành chợ búa, mạng lưới buôn bán, xay xát và vận chuyển.

Nông nghiệp buổi đầu không có một công thức chung. Vùng ngập sâu trồng lúa nổi. Vùng ngập vừa trồng lúa mùa. Những giồng đất cao dành cho hoa màu, vườn cây và nhà cửa. Mỗi vùng đất có một cách sống khác nhau. Mỗi mùa nước lại mở ra một mùa sinh kế khác.

Ngày ấy, một thửa ruộng không chỉ cho hạt lúa. Mùa nước nổi mang phù sa vào đồng, rửa phèn, nuôi cá, tôm và những loài thủy sinh. Nước rút, người dân xuống giống, trồng rau màu, đánh bắt cá đồng, gom những sản vật thiên nhiên để lại. Ruộng vừa là nơi trồng lúa, vừa là nơi trữ nước, nuôi cá, tái tạo đất và duy trì đời sống cộng đồng.

Người nông dân không tìm cách bắt thiên nhiên phải đi theo ý mình. Người nông dân quan sát con nước, nghe hơi đất, nhìn trời, nhìn mây rồi điều chỉnh mùa vụ. Đó là một nền nông nghiệp biết nương theo tự nhiên. Có thể năng suất lúa khi ấy không cao nếu chỉ tính bằng số tấn thóc trên một héc-ta. Nhưng giá trị của cánh đồng không chỉ nằm trong hạt lúa. Giá trị còn nằm trong cá, tôm, rau đồng, phù sa, khả năng giữ nước và sức sống được tái tạo sau mỗi mùa lũ.

Bài học ấy tưởng đã cũ, nhưng lại đang trở nên thời sự hơn bao giờ hết: không thể đánh giá một hệ thống nông nghiệp chỉ bằng sản lượng của một loại cây trồng.

Những con kênh mở đất và mở đường ra thị trường

Rồi những con kênh được đào. Kênh dẫn nước vào đồng, rửa phèn, thoát úng và mở thêm đất sản xuất. Nhưng con kênh không chỉ là công trình thủy lợi. Trong xã hội sông nước, con kênh còn là con đường, là bến chợ, là nơi ghe xuồng chở lúa, cá, trái cây và hàng hóa đi khắp vùng.

Những cánh đồng dần được nối với nhà máy xay xát, kho lúa, thương nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn và những tuyến giao thương hướng ra biển.

Từ khá sớm, người nông dân miền Tây đã bước vào nền kinh tế hàng hóa. Lúa làm ra không chỉ để ăn trong nhà hoặc đổi chác trong làng. Người trồng lúa bắt đầu nghe giá, xem nhu cầu thị trường, tính tiền thuê đất, chi phí vận chuyển, tiền vay và khả năng bán hàng.

Chợ nổi, bến ghe, vựa lúa, nhà máy xay xát, bạn hàng và thương lái hình thành nên một mạng lưới kinh tế rộng mở.

Thương lái, trong suốt một chặng đường dài, chính là cây cầu nối những thửa ruộng nhỏ lẻ với nhà máy và thị trường. Không phải lúc nào cây cầu ấy cũng hoàn hảo, nhưng trong điều kiện giao thông, thông tin và tổ chức sản xuất còn hạn chế, đó thường là cây cầu linh hoạt nhất.

Tư duy thị trường của Đồng bằng vì vậy không phải đến sau Đổi mới mới hình thành. Tư duy ấy đã có từ lâu, được nuôi dưỡng bởi cấu trúc sông nước, văn hóa giao thương và tinh thần cởi mở của cư dân phương Nam.

Nhưng ngay từ khi kinh tế lúa gạo phát triển, một nghịch lý cũng đã xuất hiện. Vùng đất có thể làm ra và xuất khẩu rất nhiều gạo, nhưng người trực tiếp tạo ra hạt gạo vẫn còn bao nổi khó khăn, nhọc nhằn.

Nghịch lý ấy không hoàn toàn thuộc về quá khứ. Trong những hình thức khác nhau, nó vẫn thấp thoáng trong chuỗi giá trị lúa gạo hôm nay.

Khi con người bắt đầu điều khiển con nước

Từ cuối thập niên 1960, những giống lúa cao sản, ngắn ngày bắt đầu xuất hiện trên đồng ruộng. Đi cùng giống mới là phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, máy bơm, máy cày, máy tuốt và những cách tổ chức mùa vụ chủ động hơn.

Nếu lúa mùa và lúa nổi tìm cách thích nghi với nước, thì lúa cao sản đòi hỏi con người kiểm soát nước.

Nếu giống lúa truyền thống dựa nhiều vào chu kỳ tự nhiên, thì giống mới cần lượng đầu vào lớn hơn và một lịch canh tác chặt chẽ hơn.

Nếu trước đây một năm chỉ có một vụ lúa dài ngày, giống ngắn ngày mở ra khả năng làm hai vụ, rồi ba vụ.

Trong điều kiện dân số tăng, chiến tranh kéo dài và nhu cầu lương thực cấp bách, đó là một tiến bộ quan trọng. Không nên nhìn lại lịch sử bằng sự phán xét dễ dàng của hôm nay. Những giống lúa cao sản đã giúp tăng nhanh năng suất, rút ngắn thời gian canh tác và mở đường cho cơ giới hóa.

Sau năm 1975, đặc biệt là sau Đổi mới, mô hình ấy được mở rộng trên quy mô lớn. Quyền tự chủ sản xuất được khơi thông. Hệ thống thủy lợi phát triển. Những cánh đồng một vụ chuyển thành hai vụ, rồi ba vụ. Các vùng ngập tự nhiên được bao đê. Giống dài ngày dần được thay thế bằng giống ngắn ngày.

Năm 1987, Việt Nam vẫn còn phải vay và nhập gạo để bù đắp thiếu hụt lương thực. Chỉ hai năm sau, năm 1989, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn gạo. Đó không chỉ là một bước ngoặt về kinh tế.

Hạt gạo góp phần đưa đất nước ra khỏi thiếu đói, củng cố niềm tin vào ci cách và mở cánh cửa cho nền nông nghiệp hàng hóa. Từ những mùa lúa, hàng triệu gia đình từng bước cải thiện cuộc sống. Đường làng được mở rộng. Điện về nông thôn. Nhà cửa khang trang hơn. Trẻ em có điều kiện đến trường. Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và dịch vụ hậu cần lớn lên.

Những cánh đồng Đồng bằng đã góp phần làm nên một kỳ tích quốc gia. Kỳ tích ấy được đánh đổi bằng mồ hôi, sự nhẫn nại và sức lao động bền bỉ của biết bao thế hệ nông dân.

Cánh đồng vẫn xanh, nhưng đất có thể đã mệt

Mỗi mô hình phát triển đều có một thời điểm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Trong giai đoạn thiếu lương thực, tăng diện tích, tăng vụ, tăng năng suất và tăng sản lượng là lựa chọn đúng đắn. Nhưng khi an ninh lương thực đã được bảo đảm, thị trường thay đổi và tài nguyên bắt đầu suy giảm, cách nghĩ cũ không thể tiếp tục dẫn dắt tương lai.

Để giữ ba vụ lúa, nhiều nơi xây dựng đê bao khép kín. Để đạt năng suất cao, lượng giống gieo sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới ngày càng tăng.

Khi sâu bệnh xuất hiện, phản ứng quen thuộc là phun thêm thuốc.

Khi đất giảm độ phì, người trồng lại bón thêm phân.

Khi giá lúa thấp, nhiều gia đình cố gắng tăng năng suất để bù đắp.

Một vòng xoáy âm thầm hình thành: chi phí càng cao thì càng phải chạy theo năng suất; càng chạy theo năng suất thì đất và nước càng chịu thêm áp lực; hệ sinh thái càng suy yếu thì chi phí cho vụ sau lại càng lớn.

Cánh đồng vẫn xanh, nhưng đất có thể đã mệt.

Bông lúa vẫn nặng hạt, nhưng người trồng lúa chưa chắc nhẹ lòng.

Một mùa thu hoạch nhìn bên ngoài có thể rất vui. Máy gặt chạy rộn ràng. Ghe lúa nối nhau trên sông. Nhưng trong căn nhà nhỏ cuối xóm, người nông dân vẫn phải ngồi tính xem sau khi trả tiền vật tư, tiền thuê máy, tiền vay và những khoản chi phí khác, mùa vụ còn lại được bao nhiêu.

Đôi khi, sản lượng lập kỷ lục nhưng thu nhập không tăng tương ứng.

Đôi khi, giá lúa tăng nhưng giá phân bón, thuốc và dịch vụ cũng tăng theo.

Đôi khi, rủi ro lớn nhất nằm trên vai người sản xuất, trong khi quyền quyết định giá cả và phần giá trị lớn hơn lại nằm ở những khâu khác. Điều đáng suy nghĩ không phải là quy trách nhiệm cho một mắt xích nào.

Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thương lái, nhà máy, doanh nghiệp xuất khẩu, ngân hàng và dịch vụ logistics đều cần thiết. Vấn đề là các mắt xích ấy đang được kết nối với nhau bằng cơ chế nào.

Khi mỗi bên chỉ cố bảo vệ phần lợi ích của mình, chuỗi có thể lớn lên về quy mô nhưng vẫn mong manh về niềm tin.

Biến đổi khí hậu không phải câu chuyện duy nhất

Hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún, suy giảm phù sa và biến động nguồn nước thượng nguồn đang hiện diện ngày càng rõ trong đời sống Đồng bằng. Nhưng không nên quy mọi khó khăn cho biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu là một sức ép từ bên ngoài. Mức độ tổn thương còn phụ thuộc vào cách con người sử dụng đất, nước và tài nguyên.

Một hệ thống chỉ phụ thuộc vào nước ngọt sẽ dễ tổn thương khi nguồn nước thay đổi.

Một cánh đồng chỉ dựa vào một loại cây trồng sẽ khó xoay xở khi thị trường hoặc khí hậu biến động.

Một nền sản xuất phụ thuộc quá nhiều vào vật tư bên ngoài sẽ khó đứng vững khi giá đầu vào tăng cao.

i cách khác, biến đổi khí hậu không tạo ra tất cả những điểm yếu. Biến đổi khí hậu làm những điểm yếu có sẵn lộ rõ hơn.

Nghị quyết 120 năm 2017 đã mở ra một chuyển dịch rất quan trọng: Đồng bằng phải phát triển thuận theo quy luật tự nhiên, lấy con người làm trung tâm và chủ động thích ứng.

Từ “chống lại thiên nhiên” sang thuận theo thiên nhiên”. Từ xem nước mặn chỉ là mối đe dọa sang nhận ra, trong những điều kiện phù hợp, nước mặn và nước lợ cũng là tài nguyên. Từ áp dụng một công thức sản xuất cho toàn Đồng bằng sang tổ chức sinh kế theo từng tiểu vùng ngọt, lợ, mặn.

Đây không chỉ là sự thay đổi trong kỹ thuật thủy lợi. Đó là sự thay đổi trong cách nhìn về phát triển.

Không phải làm ít lúa hơn, mà tạo nhiều giá trị hơn

Chuyển đổi nông nghiệp không có nghĩa là quay lưng với cây lúa. Chính vì trân trọng hạt gạo nên cần giải phóng cây lúa khỏi áp lực phải gánh quá nhiều mục tiêu bằng mọi giá.

Lúa cần được trồng ở nơi có lợi thế nhất, bằng quy trình phù hợp nhất, phục vụ phân khúc thị trường rõ ràng nhất và mang lại thu nhập xứng đáng hơn cho người sản xuất.

Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh đến năm 2030 đang mở ra một hướng đi mới. Nhưng một triệu héc-ta không thể chỉ là phép cộng của những con số đăng ký.

Mỗi cánh đồng tham gia phải có tổ chức nông dân đủ năng lực, có doanh nghiệp liên kết, có quy trình canh tác, dữ liệu vùng trồng, khả năng đo lường phát thải và đầu ra khác biệt với sản phẩm thông thường.

Câu hỏi không chỉ là có bao nhiêu héc-ta. Cần hỏi thêm: hạt gạo ấy bán cho ai, theo tiêu chuẩn nào, giá trị tăng thêm được phân chia ra sao, người nông dân nhận được gì từ việc giảm phát thải và làm thế nào để những cam kết xanh trở thành thu nhập thật.

Cuộc chuyển đổi này gợi ra một nguyên lý tưởng như nghịch lý: đôi khi bớt đi lại tạo ra nhiều hơn.

Giảm lượng giống, cây lúa có thêm không gian để phát triển.

Giảm phân bón, hiệu quả sử dụng dinh dưỡng có thể tốt hơn.

Giảm thuốc, hệ sinh thái đồng ruộng có cơ hội phục hồi.

Giảm nước tưới, vừa tiết kiệm chi phí vừa giảm phát thải.

Giảm chạy theo sản lượng bằng mọi giá, có thể tăng chất lượng, thương hiệu và giá trị.

Đó là chuyển từ “tăng đầu vào để tăng đầu ra” sang tối ưu toàn bộ hệ thống để tạo thêm giá trị”.

Không để người nông dân đơn độc giữa cánh đồng

Phía sau một hạt gạo là rất nhiều con người. Có người làm giống, bán vật tư, cung cấp dịch vụ cơ giới. Có thương lái thu gom. Có hợp tác xã tổ chức vùng nguyên liệu. Có nhà máy sấy, xay xát. Có doanh nghiệp xuất khẩu, ngân hàng, vận tải và cơ quan quản lý. Mỗi người đứng ở một vị trí khác nhau, chịu một áp lực khác nhau.

Người nông dân cần bán nhanh để trả chi phí và chuẩn bị vụ mới.

Thương lái cần thu gom đủ sản lượng trong khoảng thời gian rất ngắn.

Nhà máy cần nguyên liệu để vận hành.

Doanh nghiệp phải giao hàng đúng hợp đồng, đúng chất lượng và thời hạn.

Ngân hàng phải kiểm soát rủi ro.

Những lợi ích ấy không tự nhiên đồng nhất.

Vì vậy, liên kết không thể chỉ dựa vào một cái bắt tay hay lời vận động. Liên kết cần hợp đồng rõ ràng, cách tính giá minh bạch, tiêu chuẩn chất lượng thống nhất, thiết bị đo được kiểm chuẩn và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Nếu giá thị trường tăng, người sản xuất không nên là bên duy nhất được yêu cầu giữ cam kết. Nếu giá thị trường giảm, doanh nghiệp cũng không thể tự gánh toàn bộ rủi ro. Nếu chất lượng không đồng đều, cần có cách đo lường khách quan để tránh tranh cãi làm mất niềm tin.

Thương lái cũng không nên bị nhìn như một mắt xích cần loại bỏ. Vấn đề là làm sao đưa thương lái vào chuỗi một cách chính thức, chuyên nghiệp và có trách nhiệm hơn. Khi được đăng ký, tập huấn, tiếp cận tín dụng và tham gia hệ thống dữ liệu, thương lái có thể trở thành đại lý vùng nguyên liệu, nhà cung cấp dịch vụ thu gom và người truyền tải thông tin thị trường.

Hợp tác xã càng không thể chỉ tồn tại trong hồ sơ, danh sách thành viên hoặc những cuộc họp. Một hợp tác xã mạnh phải làm được những việc từng hộ riêng lẻ không thể làm: mua chung vật tư có kiểm soát, tổ chức cơ giới, điều phối lịch thời vụ, quản lý mã số vùng trồng, đàm phán hợp đồng, kiểm soát chất lượng, thu gom rơm, quản trị dữ liệu và phân chia lợi ích minh bạch.

Hợp tác xã phải trở thành một doanh nghiệp cộng đồng. Ở đó, người nông dân không chỉ bán sản phẩm, mà còn đồng sở hữu dịch vụ, thông tin và dữ liệu của vùng nguyên liệu.

Điều ngành hàng lúa gạo cần xây dựng không chỉ là một chuỗi cung ứng. Điều cần hơn là một hạ tầng niềm tin.

Một cánh đồng có thể cho nhiều hơn hạt lúa

Sau mùa gặt, trên nhiều cánh đồng, rơm vẫn thường được xem là thứ cần nhanh chóng dọn đi. Có nơi rơm được đốt để chuẩn bị cho vụ mới. Khói phủ trên đồng. Dinh dưỡng trở về không khí thay vì trở lại đất. Nhưng nếu nhìn bằng tư duy khác, rơm không phải là phế phẩm.

m có thể dùng để trồng nấm, làm thức ăn chăn nuôi, phân hữu cơ, nhiên liệu hoặc vật liệu sinh học. Trấu có thể tạo năng lượng, silica và những vật liệu mới. Cám gạo có thể được chế biến thành dầu, thực phẩm và sản phẩm dinh dưỡng.

Hạt lúa chỉ là một phần giá trị của cánh đồng. Nhưng kinh tế tuần hoàn không thể chỉ dừng ở vài mô hình trình diễn. Cũng không thể để từng hộ tự xoay xở với cả núi phụ phẩm sau mùa thu hoạch.

Cần hình thành những cụm kinh tế tuần hoàn gắn với vùng nguyên liệu. Hợp tác xã, doanh nghiệp thu gom, cơ sở chế biến và ngành chăn nuôi phải được kết nối bằng kế hoạch mùa vụ và hợp đồng dài hạn. Khi ấy, doanh thu của cánh đồng không chỉ đến từ hạt lúa. Giá trị còn đến từ rơm, trấu, cám, giảm phát thải, năng lượng sinh khối và những dịch vụ mà hệ sinh thái mang lại.

Một cánh đồng được nhìn theo cách ấy sẽ không còn là nơi chỉ sản xuất ra một loại hàng hóa. Đó là một không gian kinh tế, sinh thái và tri thức.

Để dữ liệu không nằm yên trong báo cáo

Người nông dân cần biết thị trường cần loại gạo gì trước khi xuống giống, chứ không phải chờ đến ngày thu hoạch mới hỏi giá.

Doanh nghiệp cần biết vùng nguyên liệu ở đâu, diện tích bao nhiêu, chất lượng thế nào và thời điểm thu hoạch, chứ không thể đến sát ngày mới đi tìm hàng.

Cơ quan quản lý cần dự báo nguy cơ thiếu nước, dư cung, dịch hại hoặc ùn tắc thu mua, chứ không chỉ tổng hợp số liệu khi mùa vụ đã kết thúc.

Dữ liệu phải đi trước quyết định.

Mỗi cánh đồng tham gia chuỗi giá trị xanh cần từng bước có nhật ký số, mã số vùng trồng, thông tin về giống, vật tư, nước tưới, chất lượng và phát thải.

Hộ chiếu xanh” của hạt gạo không thể chỉ là một nhãn hiệu đẹp trên bao bì. Hộ chiếu ấy phải được hình thành từ những dữ liệu có thể kiểm chứng, từ cách người nông dân gieo sạ, bón phân, quản lý nước, thu gom rơm cho đến cách lúa được sấy, xay xát và vận chuyển.

Khi dữ liệu trở thành tài sản dùng chung, người nông dân có thể chủ động hơn, hợp tác xã có thêm năng lực đàm phán, doanh nghiệp giảm rủi ro và cơ quan quản lý có thể ra quyết định chính xác hơn.

Kỳ tích tiếp theo được đo bằng điều gì?

Từ lâu, thành công của nông nghiệp thường được đo bằng diện tích, năng suất và tổng sản lượng. Những con số ấy vẫn cần thiết, nhưng không còn đủ.

Đến năm 2030, cần đo thêm thu nhập ròng của người nông dân trên mỗi héc-ta, tỷ lệ chi phí đầu vào, chất lượng đất và nước, mức giảm phát thải, tỷ lệ phụ phẩm được tái sử dụng và phần giá trị người nông dân, hợp tác xã nhận được trong toàn chuỗi. Cũng cần đo bằng số người trẻ tìm thấy cơ hội nghề nghiệp ở nông thôn. Đo bằng khả năng cộng đồng đứng dậy sau một mùa hạn, mặn, lũ hoặc một cú sốc thị trường. Đo bằng việc người nông dân có còn phải bán vội ngay sau thu hoạch hay đã có quyền lựa chọn tốt hơn. Đo bằng việc một hợp tác xã có đủ khả năng đàm phán bình đẳng với doanh nghiệp hay chưa.

Khi cách đo thành công thay đổi, cách đầu tư nguồn lực và cách hành xử của các tác nhân cũng sẽ thay đổi.

Cuộc chuyển đổi đến năm 2030 vì vậy không chỉ là đổi giống cây, con hay một vài quy trình kỹ thuật.

Đó là chuyển đổi cách nhìn về thiên nhiên.

Chuyển đổi cách tổ chức thị trường.

Chuyển đổi cách phân chia giá trị.

Và sâu xa hơn, đó là chuyển đổi cách con người đối xử với đất, với nước và với nhau.

Từ kỳ tích hạt gạo đến kỳ tích xanh

Chiều xuống trên cánh đồng, người nông dân khi nãy lại mở bàn tay, để nắm đất rơi dần qua những kẽ ngón tay. Đất đã nuôi sống bao thế hệ. Những thế hệ hôm nay có trách nhiệm làm cho đất tiếp tục sống.

Đồng bằng sông Cửu Long từng làm nên kỳ tích bằng sức lao động, tinh thần khai phá và khả năng thích ứng của con người phương Nam. Chặng đường mới cần thêm sức mạnh của tri thức, khoa học, hợp tác và niềm tin.

Không để người nông dân đơn độc giữa cánh đồng.

Không để doanh nghiệp đơn độc trước thị trường.

Không để hợp tác xã đơn độc trong những thủ tục.

Không để từng địa phương đơn độc trong một hệ sinh thái chung.

Đến năm 2030, Đồng bằng sông Cửu Long có thể không chỉ được thế giới biết đến như một vùng sản xuất nhiều lúa gạo, thủy sản và trái cây.

Vùng đất Chín Rồng có thể trở thành hình mẫu của một nền nông nghiệp biết thuận theo thiên nhiên, lấy giá trị làm trung tâm, lấy người nông dân làm chủ thể và lấy hợp tác làm phương thức phát triển.

Kỳ tích tiếp theo của Đồng bằng có lẽ không nằm ở một kỷ lục sản lượng mới. Kỳ tích ấy sẽ được nhận ra khi đất khỏe hơn, nước sạch hơn, người nông dân sống tốt hơn; khi những người trẻ nhìn thấy tương lai trên quê hương mình; và khi mỗi hạt gạo đi xa đều mang theo câu chuyện về trách nhiệm, niềm tin và một vùng đất biết tự làm mới mình.

Lê Minh Hoan