Từ cuốn sổ ghi chi chít tiền phân bón, tiền cấy...., nông dân Hưng Yên bắt đầu thấy làm lúa 'đỡ lỗ' nhờ mô hình sản xuất giảm phát thải kết hợp cơ giới hóa.

Trăn trở chi phí sản xuất lúa

Cuốn sổ học sinh loại 96 trang được gập đôi ở góc. Trên những dòng kẻ xanh đã nhòe mực là chi chít khoản chi cho một vụ lúa: cày bừa 160 nghìn, gặt 160 nghìn, phân 300 nghìn - chưa kể công, cấy + sạ 400 nghìn, trừ ốc 70 nghìn, trừ cỏ 50 nghìn, trừ chuột 35 nghìn… Ở cuối trang, ông Lương Văn Hán khoanh tròn tổng chi phí hơn 1,7 triệu đồng cho một sào ruộng. Bên dưới là phép tính doanh thu: 200kg x 7.200 = 1,4 triệu đồng.

Cuốn sổ ghi chi phí sản xuất 1 sào lúa vụ xuân 2026 của ông Hán. Ảnh: Bảo Thắng.

Ông ngồi trong căn nhà cấp bốn ở thôn Nứa, xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên, lấy ngón tay đã chai sần rà lại từng con số. Cuốn sổ này được ông ghi suốt nhiều năm, từ lúc giá phân còn hơn 100 nghìn một bao đến khi tăng gần gấp đôi, từ thời thuê người cấy còn rẻ đến lúc 400 - 500 nghìn đồng/công.

Ông nói người trong vùng làm lúa giờ không còn tính chuyện lời lãi như trước. “Giờ chủ yếu lấy gạo ăn thôi. Nếu thuê hết các công đoạn thì coi như lỗ”, ông trầm ngâm.

Long Hưng là vùng trũng. Mấy năm gần đây, nhiều diện tích lúa mất mùa vì úng ngập. Không ít hộ bỏ ruộng, đi làm công ty hoặc cho thuê đất. Cánh đồng trước đây kín người làm, giờ nhiều thửa để không. Người còn bám ruộng phần lớn là người lớn tuổi, tranh thủ buổi sáng hoặc chiều tối ra đồng. Nếu cứ hiu hắt như này, e chẳng còn mấy người mặn mà với cây lúa.

Hi vọng kịp nhen lên từ vụ xuân năm nay khi thôn Nứa lần đầu tham gia mô hình lúa giảm phát thải do Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) hỗ trợ máy móc và kỹ thuật. Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở khâu gieo sạ và bón phân.

Theo ông Hán, lúa trong mô hình giảm phát thải đứng cây và đồng đều hơn. Ảnh: Bảo Thắng.

Thay vì làm đất thủ công rồi gieo sạ như trước, máy trong dự án vừa san phẳng mặt ruộng, vừa gieo sạ theo hàng, đồng thời vùi phân xuống đất. Người dân chỉ phải trả khoảng 60.000 đồng cho công đoạn này.

Nếu làm theo cách cũ, riêng tiền san mặt ruộng, gieo sạ và công lao động đã lên tới khoảng 400.000 đồng mỗi sào. “Làm kiểu cũ vất vả mà năng suất thấp, công cao. Máy móc vào giảm được công lao động rất nhiều”, ông Hán tâm sự.

Trên cánh đồng ngay ngắn trước nhà, những thửa ruộng trong mô hình hiện lên khác biệt rõ rệt. Hàng lúa đều, khoảng cách thưa hơn, thân đứng, cứng, ít đổ. “Máy cắm hạt xuống sâu 3 - 5cm, phân xuống 5 - 7cm nên ít bị bay hơi hay trôi. Cây bám đất khỏe hơn”, ông Hán nhận xét.

Trong cách làm cũ, nông dân miền Bắc thường gieo dày để “ăn chắc”. Một sào có thể dùng tới 2 - 2,5kg giống. Với máy gieo sạ của dự án, lượng giống giảm còn khoảng 1,5kg. Phân bón cũng giảm đáng kể. Theo ông Hán, ruộng ngoài mô hình thường bón khoảng 15kg phân mỗi sào, tương đương gần 300.000 đồng với mặt bằng giá hiện nay. Trong mô hình, lượng phân chỉ còn khoảng 11 - 12kg.

Ruộng nhà ông Hán thuộc mô hình thực hành bón phân đúng trong canh tác lúa phát thải thấp. Ảnh: Bảo Thắng.

Vốn thuộc quê lúa Thái Bình (cũ), đã vài lần Long Hưng "trải thảm" đón các mô hình trình diễn. Nhưng sau mấy bận như thế, ông Hán chiêm nghiệm ra, điều người dân quan tâm trước tiên không phải “phát thải thấp” hay tín chỉ carbon, mà là số tiền tiết kiệm được sau mỗi vụ.

Người đàn ông ở tuổi thất thập tính toán rất nhanh. Với năng suất khoảng 200kg thóc một sào, giá bán hiện quanh mức 7.000 - 7.200 đồng/kg, tổng thu chỉ loanh quanh 1,4 - 1,5 triệu đồng, chưa bằng chi phí 1,7 triệu đồng bỏ ra. Nhưng khi 3 công đoạn nặng nhất được cơ giới hóa bằng máy do IRRI tài trợ, với chi phí thấp hơn nhiều, vụ lúa bắt đầu “có đồng ra đồng vào”.

Hiệu quả thấy rõ

Ông Dương Văn Sĩ, Phó Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Liên Hiệp trực tiếp tổ chức mô hình trên diện tích hơn 3ha ở thôn Nứa thừa nhận, điều khó nhất ở miền Bắc không nằm ở kỹ thuật mà ở quy mô ruộng đất và lao động.

Ruộng ở Long Hưng nhỏ, manh mún, mỗi nhà một giống lúa, một lịch làm đồng khác nhau. Người dân phần lớn trồng để ăn nên không có động lực đồng bộ sản xuất. “Có nhà thích gạo ngon, có nhà thích năng suất. Nếu bắt họ bỏ tiền ra để làm cùng một kiểu thì rất khó”, ông Sĩ nói.

Ruộng nhà ông Hán thuộc mô hình thực hành bón phân đúng trong canh tác lúa phát thải thấp. Ảnh: Bảo Thắng.

Theo ông, mô hình chỉ vận hành được khi có tổ chức đứng giữa điều phối, từ chọn giống, lịch gieo sạ đến vận hành máy móc. Hợp tác xã đóng vai trò trung gian, gom ruộng và kết nối với doanh nghiệp hoặc dự án hỗ trợ. Nếu để từng hộ tự làm, chi phí sẽ vượt quá khả năng của đa số nông dân.

Thực tế này cũng là lý do nhiều nơi mong muốn triển khai sản xuất lúa phát thải thấp ở miền Bắc nhưng còn chần chừ, bởi đặc thù khó nhân rộng nhanh như tại ĐBSCL. Ruộng ở miền Bắc có diện tích nhỏ, manh mún, mức độ cơ giới hóa thấp hơn, lao động già hóa và hệ thống thủy lợi phức tạp hơn. Chỉ riêng việc san phẳng mặt ruộng để áp dụng tưới ngập - khô xen kẽ đã là thách thức.

Tại Long Hưng, những năm gần đây, vấn đề lớn hơn còn là úng ngập. Trưởng thôn Lương Văn Hán kể 3 vụ mùa gần đây đều mất trắng nhiều diện tích vì nước tiêu chậm. Có nơi đường bê tông ngập ngang mặt. “Nếu không giải quyết được tiêu úng thì dân sẽ bỏ ruộng”, ông nói.

Câu chuyện giảm phát thải bởi vậy không đơn thuần là vấn đề giảm giống hay giảm phân. Nó kéo theo nhu cầu tổ chức lại đồng ruộng, điều tiết nước, cơ giới hóa và liên kết tập thể. Trong vụ vừa qua, điều khiến nhiều nông dân bất ngờ nhất là độ đồng đều của ruộng lúa. Máy san phẳng mặt ruộng giúp nước phân bố đều hơn. Lúa chín đồng loạt, ít đổ ngã.

Ông Dương Văn Sĩ, Phó Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Liên Hiệp (trái) thăm đồng cùng ông Hán. Ảnh: Bảo Thắng.

Phó Giám đốc Lương Văn Sĩ bảo nhiều người bất ngờ vì trước đây mỗi hộ làm một kiểu, ruộng lúa nhà cao nhà thấp, nước chỗ sâu chỗ cạn nên cỏ mọc nhiều và năng suất không đồng đều. Khi cả cánh đồng gieo cùng thời điểm, cùng quy trình, hiệu quả nhìn thấy rõ bằng mắt thường. Kiểm đếm nhanh thấy ruộng trong mô hình năng suất đều đạt và vượt ngưỡng 220 - 230kg mỗi sào.

Hiệu quả bước đầu là điều có thể cảm nhận, nhưng bên bàn trà lúc chiều muộn, cả ông Hán lẫn ông Sĩ đều trầm ngâm. Mô hình hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ bên ngoài, từ máy móc đến kỹ thuật. Một máy gieo sạ kết hợp bón phân có giá hàng trăm triệu đồng, vượt quá khả năng của phần lớn nông dân trong vùng. Nếu không có cơ chế hỗ trợ hoặc tổ chức đứng ra vận hành tập trung, rất khó để từng hộ tự đầu tư. “Muốn dân theo thì phải có máy”, ông Hán bộc bạch.

Ông Sĩ thì nhìn xa hơn đến đầu ra. Theo ông, chỉ khi có thương hiệu, có doanh nghiệp bao tiêu hoặc xuất khẩu, nông dân mới chấp nhận làm đồng loạt trên diện rộng. “Nếu cùng một giống, cùng quy trình trên cả cánh đồng lớn thì mới hình thành vùng hàng hóa được”, ông nói.

Hiện phần lớn lúa ở Long Hưng vẫn được giữ lại để ăn hoặc chăn nuôi. Việc bán ra thị trường chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Với những nông dân đã cả đời một nắng hai sương, chỉ cần vụ lúa “không lỗ nữa” đã là thay đổi lớn. Họ giờ chắc mẩm rằng từ vài trăm nghìn tiền cấy, gieo sạ, bón phân giờ chỉ còn tiêu tốn 60.000 đồng/sào.

Bá Thắng - Kiên Trung

Theo Báo Nông nghiệp và Môi trường