Cái tên của nó: Séng Cù, nghe vừa mộc mạc, vừa chứa đựng cả hơi thở của đại ngàn. Để có được bát cơm thơm dẻo, cây lúa đã uống những giọt sương sớm tinh khiết, đón những tia nắng mật ong đầu tiên trên vùng cao và chắt lọc tinh túy những ân huệ mà vùng đất Mường Khương, Bát Xát ban cho.
TAY AI THƠM HƯƠNG SÉNG CÙ
TRẦN THỊ MINH (ngõ
Trường Nội trú, đường Quy Hóa, phường Lào Cai, Lào Cai).
Tôi nâng niu bát cơm
trên tay. Hương thơm tỏa ra thơm nức. Cũng như bao người khác trên mâm sau khi ăn
miếng cơm đầu tiên: họ chợt lặng người, lặng đến mức tưởng như nghe thấy tiếng
hạt cơm vỡ ra nơi đầu lưỡi, như muốn căng hết vị giác, khứu giác để thẩm thấu độ
săn dẻo và ngọt đậm vị của miếng cơm. Để rồi ăn xong, người ta cứ có mãi cái cảm
giác đậm đà, sâu lắng như chính đất trời vùng cao vậy.
Rồi òa lên râm ran những
lời khen. Mọi người xuýt xoa bàn luận về bát cơm trắng ấy, về giống gạo lần đầu
được thưởng thức ấy. Có người còn muốn hỏi cô bé tiếp tân về cả phương thức trồng
cấy giống lúa này.
Cô bé chừng như hiểu lòng khách lắm. Dù bận,
cô cũng nán lại giải thích đôi dòng “Dạ! Các bác đang dùng cơm Séng Cù đặc sản
của quê cháu đấy ạ. Loại gạo này chỉ có ở miền núi thôi!”.
Vâng tôi đang muốn
nói đến hạt gạo Séng Cù. Một loại gạo mà bất cứ ai khó tính nhất về ẩm thực đều
phải gật gù hài lòng. Đến Lào Cai du lịch, du khách nào cũng muốn được nếm thử
trải nghiệm và sau đó mua về nhà làm quà cho người thân.
Trong chuyến thăm Mường
Khương lần ấy, tôi có ý tìm hiểu về giống “ngọc thực” này cũng bởi nhiều lí do:
nó là đặc sản lúa tẻ nổi tiếng tại Mường Khương (Lào Cai). Nó thơm ngon, giá trị
dinh dưỡng cao và là niềm tự hào của cộng đồng dân tộc Nùng, Dao, Mông, Giáy. Canh
tác nó cũng khác với các loại lúa. Séng Cù được trồng ở miền núi có độ cao năm
trăm đến một ngàn tư mét so với mực nước biển, ở những thung lũng hoặc chân ruộng
bậc thang. Nhiều nơi còn trồng trên những thửa ruộng bậc thang cao hẹp. Do trồng
trên miền núi cao, hưởng nguồn nước trong lành trong núi chảy ra và khí hậu
ngày nắng, tối nhiệt độ hạ xuống thấp lại có sương giăng tới sáng, kết hợp được
chăm sóc chu đáo nên cây lúa phát triển tốt tươi, năng suất mỗi vụ một cao hơn.
Bông lúa dài, mẩy hơn, cho hạt gạo thon dài màu trắng ngà, giàu dinh dưỡng và
hương thơm nức.
Lần ấy, ngắm cánh đồng
lúa Séng Cù mênh mông ở thung lũng Mường Khương hoặc những gợn sóng lúa xanh rì
ở trên những thửa ruộng bậc thang ở Nấm Lư, Tung Chung Phố, Tả Ngài Chồ, Pha
Long, Lùng Khấu Nhin thuộc khu vực huyện Mường Khương cũ, đôi mắt tôi như muốn
căng hết cỡ. Lúa xanh quá. Đẹp quá. Hơn cả một bức tranh. Cả không gian thoang
thoảng hương thơm của lúa đang thì con gái. Lại ngẫm ra vẻ đẹp trước mắt không
chỉ bồi dưỡng no say cái thị giác, khứu giác khi thưởng lãm, mà nó kết tinh
thành bát cơm ngon cho ta thưởng thức. Nó đem đến cái ấm no cho người tạo ra.
Tôi hỏi người dân địa
phương và cán bộ khuyến nông xã về nguồn gốc của giống lúa này. Hóa ra mẹ đẻ của
nó là giống lúa thuần thơm Sừ Ly Séng của hai tỉnh Trung Quốc giáp biên với ta là
Vân Nam, Quảng Tây. Theo tiếng quan thoại Tây Nam Trung Quốc, thì Sừ Ly Séng
còn gọi là Séng Cù, nghĩa là Hương cốc hay Lúa thơm mà tên khoa học gọi là Đồn
Điền 502 hay nhiều người ở Mường Khương gọi tắt là gạo 502, gạo Cù, gạo Séng…
Từ năm 1998, Séng Cù
đã được những người Mông, Dao, Nùng, Giáy sát biên đem về gieo trồng trên núi
non Mường Khương. Mấy vụ đầu, cây lúa phát triển rất tốt nhưng khi trổ bông thì
lèo tèo, hạt lép nhiều hơn hạt mẩy. Phần thu được ít ỏi, sau khi xay xát lấy gạo
ăn, mọi người mới giật mình vì độ thơm ngon, đậm đà hiếm thấy của nó. Có người
còn nhận xét ngon hơn cả 502 “bên ấy”. Vậy là, dù mới được “nhập khẩu” về quê mới,
qua năm tháng, bằng kinh nghiệm và tình yêu với đất, người dân đã thuần hóa được
Séng Cù. Từ một giống lúa lạ, khó trồng nhưng dưới bàn tay cần mẫn và bộ óc
thông minh của người dân chuyên sống nhờ vào canh tác vùng cao, giống lúa quý ban
đầu cho năng suất thấp ấy đã dần dần cho sản lượng thu hoạch cao hơn, chất lượng
hơn và lan rộng ra nhiều địa phương của Mường Khương.
Ra thế, nguồn cội của
nó ở nước bạn, nhưng nhờ sự giao thoa văn hóa, xã hội và giao lưu kinh tế cá
nhân mà Séng Cù đã di thực và bám rễ ôm chặt vùng quê mới, quốc tịch mới. Khi nền
kinh tế mở đang được tạo đà phát triển, khi nhu cầu ăn ngon, ăn sạch thay cho
ăn no, và nhất là khi hạ tầng giao thông nông thôn được mở đến tận làng bản thì
những đặc sản vùng cao lên ngôi. Do vậy, bên cạnh giống lợn đen bản địa nhiều nạc,
ngọt thịt thì giống lúa thơm Séng Cù được dân ta phát triển. Hiện nay tuy chưa
thể thay thế hoàn toàn mọi giống lúa cũ, nhưng lúa Séng Cù của Mường Khương đã
chiếm lĩnh một phần lớn diện tích trồng lúa tại đây với trên 500 ha và sản phẩm
của nó đã được mang đi muôn nơi.
Bắt đầu “nhập tịch” từ
năm 1998, phủ rộng khắp Mường Khương. Năm 2004, Séng Cù lan xuống Bát Xát qua một
số cá nhân và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Séng Cù đặc biệt được
chào đón ở cánh đồng Mường Vi gần 200 ha, là vùng trồng lúa Séng Cù lớn nhất tỉnh
với sản lượng một ha đạt 6,5 tấn. Diện tích Séng Cù ở khu vực Bát Xát dần mở rộng,
đến nay đã lên tới hơn 300 ha và tiếp tục được mở rộng mãi. Một số hợp tác xã kinh
doanh nông sản và lúa gạo ở Mường Vi như Hợp tác xã Tiên Phong, Hảo Anh, và các
Hợp tác xã ở Lào Cai, Mường Khương như Hợp tác xã Dịch vụ Lào Cai và Hợp tác xã
Kinh doanh và tổng hợp Mường Khương đều khai thác triệt để vùng nguyên liệu ở
Bát Xát và Mường Khương. Các Hợp tác xã đã đóng vai trò chủ chốt trong việc
liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm OCOP ba sao (riêng HTX Tiên Phong được chứng
nhận sản phẩm OCOP bốn sao). Nhờ đó, hương thơm, vị ngon của gạo Séng Cù Mường
Khương, Bát Xát đã lan xa đến những thị trường khó tính như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Đà Nẵng.
Tôi liên tưởng đến việc
hàng chục năm trước, Bát Xát đã từng cho “nhập khẩu” cây cao su về trồng ở xã biên
giới A Mú Sung nhưng thất bại, dù A Mú Sung chỉ cách trùng điệp đồi cao su “bên
ấy” một con sông Hồng. Không phải đất đai nào cũng phù hợp với cây trồng. Với
lúa Séng Cù, khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây phù hợp đem đến sản lượng cao và sản
phẩm chất lượng. Khắp cánh đồng Mường Vi, Quang Kim, Bát Xát…khi mùa đến, người
ta dễ choáng ngợp bởi độ mênh mông bát ngát vàng dưới những chân núi đá vôi hoặc
xen kẽ làng bản trù phú. Màu vàng sóng sánh trên từng thửa ruộng bậc thang. Cái
màu vàng no ấm khiến ta không thể không nghĩ đến hai chữ Phồn Thịnh.
Gặp chị Nông Thị Hoa,
một nông dân ở Mường Vi (Bát Xát) đang chở gạo đi bán dạo trên phố. Mấy bao gạo
khác nhau chồng chất trên chiếc xe đạp. Tôi gọi chị vào vừa mua, vừa bắt chuyện.
Người phụ nữ Giáy bốn mươi tám tuổi quệt mồ hôi cười cười:
- Mùa này đang để ải,
nhàn rỗi em đi chợ kiếm chút tiền học cho các cháu thôi! Việc chính của em vẫn
là trồng lúa mà.
- Em thấy trồng lúa
Séng Cù có khác trồng giống lúa khác không?
- Cũng như giống lúa
khác, nhưng kỹ càng hơn chị ơi. Trước hết những thửa ruộng trồng Séng Cù phải
xa những thửa ruộng trồng giống lúa khác để tránh bị lẫn vào nhau giảm chất lượng
của gạo. Nào là làm đất, ủ giống, gieo mạ đến khi cấy lúa phải đều, phải giữ
đúng khoảng cách quy định. Giống lúa này lại rất hay bị sâu bệnh nên khâu phòng
chống sâu bệnh cũng vất hơn. Nào là quy trình thu hoạch đa số phải gặt thủ công
ở những mảnh ruộng bé và bậc thang. Máy gặt đập chỉ ở thửa lớn thôi. Thu hoạch
xong, nếu hợp tác xã bao tiêu rồi thì không phải lo không có trời nắng phơi
thóc nữa. Đã có giàn sấy của họ rồi. Ôi dồ! cũng vất lắm chứ!
Nghe chị Hoa kể,
trong tôi vẳng đến câu ca dao quen thuộc
Ai ơi bưng bát cơm đấy
Dẻo thơm một hột đắng
cay muôn phần.
Nhưng rồi lại nghĩ,
đó là thuận theo lẽ trời. Làm ra hạt lúa, củ khoai xưa, cha ông mình phải cặm cụi
bới đất lật cỏ. Gặp năm mưa thuận gió hòa còn có cái đút miệng. Gặp năm thiên
tai địch họa thì cầm bằng đói rài đói rạc!
Ngày nay, trong lao động
sản xuất trên đồng ruộng, những “đắng cay” xưa đã được san sẻ phần nào, người
nông dân đã được hỗ trợ rất nhiều từ máy móc. Nhưng ở vùng núi Mường Khương,
Bát Xát máy móc chỉ làm trên những cánh đồng lớn, còn lại nông dân vẫn làm thủ
công như trước trên những mảnh ruộng bé, ruộng bậc thang. Vậy nên một hạt gạo
cõng cả một bầu trời thương khó âu cũng là lẽ thường tình, để ta trân quý hơn hạt
cơm ta ăn hàng ngày…
Hiện nay, giống lúa
Séng Cù đã nhập khẩu nhiều vùng đất ở Lào Cai có khí hậu, nguồn nước phù hợp
như những phường, những xã ở Tây Bắc Lào Cai: Tú Lệ, Nghĩa lộ, Ngòi Thia, Văn
Chấn. Đặc biệt lúa Séng Cù phủ kín cánh đồng Mường Lò – cánh đồng rộng thứ hai
trong “tứ đại cánh đồng” nổi tiếng của Tây Bắc Việt Nam “Nhất Thanh, nhì Lò,
tam Than, tứ tấc”. Đến Mường Lò mùa lúa chín chỉ thấy một biển vàng mênh mông rợn
ngợp. Lúa Séng Cù đã về đây để góp thêm một số lượng lớn Séng Cù cho cả nước.
Nhưng dù được trồng cấy
nhiều nơi, gạo Séng Cù ngon nhất vẫn là Séng Cù Mường Khương và Bát Xát. Người
nông dân xứ này càng biết quý, biết tận dụng lợi thế vùng miền của mình để phát
triển nó thành cây lúa đặc sản.
Từ trong gian bếp,
mùi hương của nồi cơm đang sôi bùng bục tỏa lựng khắp nhà khiến tôi phải dừng
bàn phím. Chuyến công tác của tôi vừa qua đã khiến tôi có cái nhìn sâu sắc hơn
về hạt lúa quê mình. Hạt lúa quê mình, nghe thân thương đến lạ. Cái tên của nó:
Séng Cù, nghe vừa mộc mạc, vừa chứa đựng cả hơi thở của đại ngàn. Để có được
bát cơm thơm dẻo, cây lúa đã uống những giọt sương sớm tinh khiết, đón những
tia nắng mật ong đầu tiên trên vùng cao và chắt lọc tinh túy những ân huệ mà
vùng đất Mường Khương, Bát Xát ban cho. Đó là thổ nhưỡng, là khí hậu, là nguồn
nước trong lành, nguồn phân hữu cơ và đặc biệt là bàn tay tảo tần của người
nông dân. Có lẽ vì thế mà hạt gạo không chỉ trắng ngà ngọc, mà còn chứa đựng cả
một kho tàng dinh dưỡng với hàm lượng vitamin cao gấp nhiều lần gạo thường.
Ngẫm ra Séng Cù không
chỉ là một giống lúa, mà là một phần di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc
nơi đây. Mỗi thửa ruộng chín vàng là cả một câu chuyện về những mùa màng vất vả
trên ruộng nước và bậc thang; về những bàn tay lao động chai sần mà đẫm hương
lúa vụ gặt; về những nụ cười của người dân bản địa khi thu hoạch và đưa nó vượt
đèo, xuống phố, trở thành niềm tự hào của nông nghiệp Lào Cai trên bản đồ lúa gạo
Việt Nam. Việc giữ gìn độ thuần chủng, nâng cao quy trình canh tác bền vững
không chỉ giúp giữ vững danh hiệu đặc sản mà còn giúp bà con quê mình có cuộc sống
ấm no hơn.
Cảm ơn người nông dân
vùng cao đã tạo ra một giống lúa đặc sản. Dù đã từng thất bại trong những ngày
đầu tiên thu hoạch, nhưng họ đã sớm nhìn ra tiềm năng dồi dào của một giống lúa
mới. Đơn giản vì nó thơm ngon. Chẳng ai nghĩ đến những hạt lúa giống mang về
qua biên giới ngày ấy, liên tục sinh sôi nảy nở và lên ngôi, trở thành gạo quý
quê mình.
Để rồi, mai này khi
vinh danh những thương hiệu gạo nổi tiếng trời Nam, người ta không chỉ vinh
danh những giống lúa đặc sản, về vựa lúa Cửu Long, Sông Hồng, mà còn nhớ mãi
hương vị đậm đà, khó quên của hạt gạo Séng Cù. Giống lúa mang theo niềm khát vọng
đưa thương hiệu Séng Cù Lào Cai vươn xa. Nó đúng là hạt ngọc của sương, của gió
và dòng nước suối mát lành nơi vùng cao biên viễn này.
Và tôi hiểu, có những
hạt gạo không chỉ nuôi sống con người, mà còn giữ lại một phần văn hóa đậm đà bản
sắc. Nó còn làm sống dậy ký ức, để những ai đi xa vẫn nhớ quê, nhớ đường quay về.


