Với tôi, tuổi thơ đã đi qua, nhưng cánh đồng quê vẫn còn đó như một phần máu thịt, như niềm yêu dấu mỗi khi trở về. Hạt gạo không chỉ nuôi lớn con người tôi, mà còn nuôi lớn cả tình thương và nhân cách. Trong mỗi hạt gạo quê nhà, tôi luôn thấy bóng dáng của cha, của mẹ, của một thời lam lũ mà ấm áp.
Bài
dự thi “Lúa gạo Việt – Nguồn cội và tương lai”
NƠI
TÔI TRỞ VỀ
LƯƠNG
THỊ HIỀN (GV Trường THPT Lương Khánh Thiện, Kiến An, Hải Phòng)
Những ngày cuối tuần, tôi lại rời phố để trở về quê. Rời khỏi những ồn ào, những vòng quay chóng mặt của bon chen, của đồng tiền, tôi tìm về với miền ký ức thân thuộc – nơi có bố, có mẹ,
và có cánh đồng quê đã nuôi lớn tuổi thơ mình.
Lần nào về với quê hương, tôi cũng ra cánh đồng. Cánh đồng phía sau nhà bát ngát hương thơm, chỉ cần vài bước chân là chạm tới. Những làn sóng lúa lăn tăn, rập rờn.
Vài cánh cò lả lơi nghiêng mình theo chiều gió. Tất cả như đang thì thầm một câu chuyện cổ tích rất xa xưa.
Chiều xuống, hoàng hôn buông chậm trên cánh đồng. Những
cánh diều vi vu, thả vào không trung thứ âm thanh êm ái đến xiêu lòng. Đứng giữa không gian ấy, tôi thấy lòng mình dịu lại, thanh thản đến lạ. Trở về đây không chỉ là trở về với cha mẹ, mà còn
là trở về với cội nguồn yêu thương, trở về với những ký ức trong veo của tuổi
thơ.
Tuổi thơ chúng tôi gắn bó với đồng quê. Trường học
cấp hai của làng ở bên kia cánh đồng, mỗi ngày đi học chúng tôi đều đi qua những bờ ruộng dài. Cả bọn chân trần lội bờ, vừa đi vừa cười nói, có khi còn nghịch ngợm té cả nước lên áo
quần. Những ngày lúa làm đòng, thân lúa căng tròn ôm đòng ngọt thơm mùi sữa, chỉ cần bóc nhẹ là lộ ra những bông lúa non trắng
xanh, mịn màng. Đưa lên miệng nhai, vị ngọt thơm, mát lành lan ra nơi đầu lưỡi.
Với lũ trẻ ngày ấy – khi bánh kẹo còn là thứ xa xỉ thì đòng đòng là món quà của đồng quê, giản dị mà vô giá. Chúng tôi vô tư bóc đòng lúa ăn và
cười ríu rít. Nhưng rồi việc làm đó bị phát hiện. Chúng tôi bị bố mẹ mắng rất nhiều. Những người lớn thì dọa rằng:
“Ăn đòng đòng nó đánh còng lưng, nó đánh sưng bụng, nó đánh rụng răng”. Lũ trẻ
con chúng tôi tin sái cổ vào thế lực thần bí của lúa, sợ thật
và từ đó không dám bóc đòng đòng lúa ăn nữa.
Sau này lớn hơn một chút, có
kiến thức hơn chúng tôi cũng đã hiểu:
làm gì có chuyện “đòng đòng đánh còng lưng, sưng bụng”. Đó chỉ là cách người lớn giữ gìn mùa màng. Bởi nếu lũ trẻ chúng tôi cứ vô tư
bóc đòng
lúa mà ăn, thì làm sao có những bông lúa chín vàng, công sức bao tháng ngày của cha mẹ sẽ hao hụt đi
biết bao nhiêu.
Chúng tôi không còn ăn lúa non nữa – không phải vì sợ, mà
vì hiểu
và biết thương. Thương những giọt mồ hôi thấm xuống ruộng đồng,
thương công sức của những người nông dân lam lũ. Chúng tôi trở nên biết trân trọng
hạt lúa, hạt ngọc của trời và của người.
Cánh đồng lúa và những hạt thóc vàng ươm đã ôm trọn cả tuổi thơ tôi. Ngày ấy, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Bố mẹ tôi là giáo viên, nhưng đời sống
“giáo
khổ trường làng” nghèo lắm. Thời ấy người ta vẫn nói: “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm.” Nhiều đồng
nghiệp của mẹ đã bỏ nghề giáo để
đi buôn thúng, bán mẹt, chạy chợ mưu sinh, có vậy mới mong
lo đủ bữa cơm cho mấy miệng ăn hàng ngày. Nhà tôi cũng có những bữa đói. Nhưng bố vẫn động viên mẹ bám trụ với nghề, giữ lấy cái nghiệp “trồng người”
nơi trường làng.
Bố tôi bị ảnh hưởng của chiến tranh, sức ép bom khiến sức khỏe bố
rất yếu.
Bố mang trong mình căn bệnh hen suyễn.
Có những đêm gió mùa
đông bắc, tiếng bố thở dốc kéo dài đến sáng. Bố ngồi phủ phục
trên đầu giường, đống chăn gối được gấp gọn, kê cao để bố tỳ hai tay và gục đầu
lên cho dễ thở. Mẹ luôn túc trực
bên cạnh,
mẹ nằm trên giường, phía sau lưng bố, kiên nhẫn tỉnh táo lắng nghe nhịp thở của
bố. Khi bố lên cơn hen tắc ứ không thở nổi, mẹ lại vội vàng tiêm thuốc vào bắp tay bố. Mẹ thao tác thật nhanh, ánh mắt
vừa lo lắng, vừa kiên cường. Mỗi đêm như thế,
hai anh em tôi nằm co ro nghe bên ngoài gió rít qua mái tôn fibroximăng, bên
trong là tiếng bố “cò cưa kéo cứ” mà không tài nào ngủ được.
Để
lo đủ bữa cho gia đình, mẹ không chỉ dạy học, mà còn làm ruộng.
Gia đình tôi được chia một sào ba thước. Bố mẹ cố gắng giữ gìn cấy lúa để có
thóc gạo ăn. Mỗi ngày, sau giờ lên lớp, mẹ lại tranh thủ ra đồng làm đến khi tối mịt mới về. Hôm thì làm cỏ, hôm thì bón phân, rắc đạm
lân, lần thì lại phun thuốc trừ sâu. Mẹ cáng đáng tất cả, nhìn bóng dáng mẹ nhỏ
bé vác trên vai bình bơm, rẽ lúa bơm thuốc sâu mà trong lòng tôi một nỗi thương
lặng lẽ dâng lên. Công việc lặp đi lặp lại, vất vả như
vậy bao ngày nhưng chưa bao giờ mẹ than thở một lời.
Mùa gặt
đến, mẹ càng vất vả hơn. Có những hôm, mẹ cùng các cô giáo
trong trường đổi
công gặt lúa cho nhau đến tận tám, chín giờ tối.
Gặt xong, mẹ và các cô dùng đòn xóc gánh những bó lúa to nặng kĩu kịt trên vai
về nhà. Cũng may ruộng ngay sau nhà tôi nên các cô không phải gánh xa. Bố yếu, không làm được việc nặng nhưng bố chỉ đạo, nhắc nhở anh em tôi dọn
dẹp sân, kê những tấm gỗ trên đoạn đường mấp mô để các cô đi cho dễ, rồi chuẩn
bị cơm, nước buổi tinh tươm để các cô và mẹ xong việc nghỉ ngơi sẽ ăn. Những bó
lúa dần được xếp đầy trên vuông sân nhỏ, thấy lúa đã
gánh về đến nhà,
mắt bố lại ánh lên niềm vui, sự an tâm.
Một thứ niềm vui rất giản dị: gia đình sẽ có gạo ăn, sẽ không phải
lo những bữa đói.
Lúa
đã về hết nhà. Bữa cơm ngày mùa ăn muộn nhưng mọi người vẫn rôm rả nói cười. Bố
cảm ơn các cô vì đã giúp đỡ gia đình. Còn trong mắt tôi thì tình cảm đồng nghiệp
của bố mẹ và các cô thật đáng quý. Tôi còn nhận ra mẹ tôi và các cô thật giỏi,
vẫn giỏi việc dạy chúng tôi ở trường, mà vẫn thật giỏi việc cấy cày gặt hái. Ăn
cơm xong các cô ra về. Tôi tưởng mẹ sẽ nghỉ ngơi nhưng không, mẹ lại tiếp tục đập lúa. Mẹ
bảo: “Túc tắc làm dần mai nắng còn phơi thóc”. Không có
máy tuốt lúa, mẹ dùng néo đập lúa. Những bó lúa đập vào chiếc cối đá,
hạt thóc rơi xuống đều đều theo tay mẹ, nhìn thật thích mắt. Mẹ giục hai anh em
đi học bài và để ý theo dõi bố thở. Hai anh em đã học xong bài mà mẹ vẫn làm.
Tôi lặng ngồi nhìn mẹ. Mẹ đập lúa dáng nhỏ và nhẫn nại. Thương mẹ nhưng tôi chẳng
nhấc nổi một bó lúa nên cũng chẳng giúp được mẹ nhiều. Tôi
vào nằm dưới chân bố, nghe tiếng bố
thở nặng nhọc xen lẫn tiếng lúa đập đều đều trong đêm. Hai âm thanh – một bên là nỗi vất vả của bố để vượt qua bệnh tật, một bên là sự kiên
trì đầy yêu thương của mẹ - đã đi theo suốt cả tuổi thơ
tôi.
Sáng ra, tôi choàng tỉnh giấc mà không biết đêm qua mình ngủ
thiếp đi lúc nào. Chạy vội ra ngoài tôi thấy đống lúa đã vơi đi một nửa và thóc
đã được mẹ đánh đống trên sân, chờ nắng lên sẽ phơi ra. Tôi chạy quanh tìm mẹ,
mẹ đang lúi húi trong bếp nấu cơm sáng. Mẹ giục hai anh em ra
ruộng nhà mình mót những bông lúa còn sót lại. Mẹ bảo vét cả những chỗ hạt thóc
rơi nhiều, về sẽ đãi sạch, phơi khô. “Ngọc thực không được lãng phí. Phải tội đấy”.
Hai anh em nhanh nhẹn ra mót thóc, rồi về ăn cơm sáng và ba mẹ con cùng đến trường.
Những ngày ấy, chúng tôi làm đủ việc mà chưa bao giờ đến trường muộn.
Dù bố mẹ cố gắng
là vậy nhưng vẫn có những lần giáp hạt nhà tôi bị thiếu gạo ăn. Nhớ lần ấy nấu
cơm, chum gạo đã vét sạch cũng chỉ được một bơ. Mẹ bảo tôi cầm rá sang cô Lan
vay thêm một bơ nữa. Nhưng tôi đi rồi cũng mang rá về không, nhà cô ấy cũng hết.
Mẹ ngẩn người, tôi hiểu là mẹ đang lo chúng tôi lại đói. Nhưng anh tôi cười hớn
hở:
-
Con có cái này mẹ đừng lo.
Rồi
anh thoắt chạy vào trong bếp, hì hụi một lúc bưng ra một cái âu sành nhỏ, gần đầy
gạo. Hóa ra mỗi lần đong gạo nấu cơm, anh lại bốc một nắm gạo nhỏ bí mật cho
vào cái âu sành, để trong góc bếp. Anh nghĩ để đề phòng lúc thiếu. Mẹ nhìn anh
cười mà nước mắt rơi. Thế là lần ấy nhà tôi vẫn có gạo ăn, đủ để chờ mẹ xoay sở
và chờ lúa mới. Những ngày tháng tuổi thơ vất vả nhưng đầy
yêu thương ấy đã đi qua, nhưng chưa bao giờ phai trong ký ức của gia đình tôi.
Giờ đây, chúng tôi đã lớn. Cha tôi đã về cõi hạc cùng các
cụ. Mẹ tôi cũng đã già, đã nghỉ hưu và đã lâu không còn cấy cày nữa. Tôi sống
và làm việc nơi thành phố, cuộc sống đủ đầy hơn. Nhưng giữa những đủ đầy ấy,
khi bát cơm không còn là nỗi lo, tôi lại sợ rằng người ta sẽ quên đi hành trình
để làm ra một hạt gạo Vì vậy, tôi luôn dạy
các con mình phải biết trân trọng từng hạt cơm, bởi trong đó là mồ hôi, là nhọc
nhằn, là tình thương của bao người.
Với tôi, tuổi thơ đã đi qua, nhưng cánh đồng quê vẫn còn đó như một phần máu thịt,
như niềm yêu dấu mỗi khi trở về. Hạt gạo không chỉ nuôi lớn con người tôi, mà
còn nuôi lớn cả tình thương và nhân cách. Trong mỗi hạt gạo quê nhà, tôi luôn
thấy bóng dáng của cha, của mẹ, của một thời lam lũ mà ấm áp. Và có lẽ, đó chính là giá trị bền bỉ và sâu xa nhất của lúa gạo Việt Nam.


