Những năm đầu thập niên 1990, khi máy gặt còn hiếm, người quê tôi vẫn đập lúa bằng tay. Ngày ấy, quê tôi cực lắm, nhưng cái cực ấy lại có vị ngọt của tình thân, của niềm vui lao động. Mỗi mùa gặt về, cả nhà lại cùng nhau chạy theo ánh mặt trời.


 Bài dự thi “Lúa gạo Việt – Nguồn cội và tương lai”

KHÓ PHAI HƯƠNG VỊ NÀNG THƠM CHỢ ĐÀO

ĐẶNG HOÀNG AN (Ấp 6, xã Long Cang, tỉnh Tây Ninh)

Trước mắt tôi, cánh đồng lúa đang vào độ chín rộ, vàng óng như mật, trải dài hun hút. Gió từ sông Vàm thổi lồng lộng, mang theo mùi lúa chín ngan ngát – thứ hương quen thuộc của miền phù sa. Tôi hít một hơi thật sâu. Mùi đồng bưng kéo tôi trở về những mùa lúa mộc mạc, chân phương mà lắng sâu tận đáy lòng...

Tía má tôi sinh ra ở xứ “gạo Cần Đước” – vùng đất nằm ven sông Vàm Cỏ, nổi tiếng với giống Nàng thơm Chợ Đào từng được chọn làm sản vật tiến vua. Là con của ruộng đồng, tía má tôi lớn lên theo mùi rơm rạ, mùi khói đốt đồng, mùi phù sa ngai ngái và những cánh đồng lúa trải dài tận chân trời.

Đời người nông dân nơi đất châu thổ cũng như đời cây lúa – cắm rễ vào bùn đất, nhẫn nại lớn lên theo con nước và theo từng mùa mưa nắng. Chính trên những thửa ruộng mênh mang ấy, trong những ngày nhổ mạ, cấy lúa, tía má tôi đã gặp nhau.

Hò ơi… Ngó lên mây bạc trời hồng/ Thương em hỏi thiệt có chồng hay chưa? Từ những lần hò qua đáp lại như vậy, tình cảm giữa tía và má lặng lẽ nhen lên, ban đầu chỉ như một mầm lúa non vừa nhú khỏi bùn, rồi lớn dần theo mùa vụ, cuối cùng bén rễ sâu trong lòng đất quê. Và tôi cũng được lớn lên từ gốc rạ chân quê.

Từ khi nào chẳng rõ mùi bùn non, mùi rơm rạ… đã thấm sâu vào tiềm thức. Để rồi chỉ cần một thoáng gió mang làn khói đốt đồng lảng bảng bay qua, là một trời ký ức tuổi thơ lại bừng dậy. Chân phương. Khó phai.

Tôi nhớ như in những ngày còn bé, lẽo đẽo theo tía ra đồng trục ruộng để chuẩn bị cho mùa lúa mới. Hồi ấy máy móc còn hiếm lắm. Tía khom lưng kéo chiếc bừa tay nặng trĩu, từng bước lún sâu trong bùn đất. Còn tôi thì lúp xúp ngồi trên trục, hai chân bám chặt, người lấm lem bùn mà lòng vui khôn xiết.  Với thằng nhỏ con nhà nông như tôi khi ấy, được theo tía ra đồng, chạm tay vào lớp đất mềm còn thơm mùi phù sa, nhìn mặt ruộng dần dần phẳng phiu sau mỗi đường cày… đó là niềm vui giản dị mà tròn đầy của tuổi thơ.

Không lâu sau đó, quê tôi bắt đầu bước vào cơ giới hóa. Tiếng máy cày rền vang trên đồng thay cho tiếng thở nặng nhọc của tía ngày trước. Nhưng mỗi lần trục ruộng bằng máy, tôi vẫn lẽo đẽo theo tía ra đồng như thói quen cũ. Máy vừa trục xong là cá rô, cá sặt từ dưới bùn quẫy lên. Tôi bắt lia lịa, bùn đất văng đầy người. Vậy mà thích vô cùng.

Nền trời quê xanh ngắt. Gió đồng thổi lồng lộng. Lũ trẻ chúng tôi cười vang, tranh nhau bắt cá rô, cá sặt vừa quẫy lên từ lớp bùn non. Bầy cò trắng chao nghiêng, sà xuống tìm mồi. Tất cả vẽ nên bức tranh tuổi thơ tôi trong veo, hiền hòa và bình yên đến lạ.

Đến mùa lúa trổ đòng đòng, cánh đồng quê như một tấm thảm xanh ngút ngàn. Hương lúa non quyện trong gió, ngọt như mùi sữa mẹ. Tôi cùng đám bạn trong xóm lại rủ nhau ra đồng hái đòng đòng ăn sống, hạt nào hạt nấy mẩy căng, vừa bùi vừa ngọt. Rồi cả đám rượt đuổi nhau trên triền đê, miệng cười vang cả một miền nhớ.

Những năm đầu thập niên 1990, khi máy gặt còn hiếm, người quê tôi vẫn đập lúa bằng tay. Ngày ấy, quê tôi cực lắm, nhưng cái cực ấy lại có vị ngọt của tình thân, của niềm vui lao động.

Mỗi mùa gặt về, cả nhà lại cùng nhau chạy theo ánh mặt trời. Ngoại và má cầm liềm cắt lúa, từng nhát liềm ngọt lịm, lúa ngã rạp thành những bó gọn ghẽ. Tía kéo theo cái bồ đập đi sau. Từng bó lúa được nâng qua vai rồi đập mạnh xuống cái thang tre. Chan chát. Mỗi cú đập là từng chùm hạt vàng rơi lả tả, lấp lánh dưới nắng.

Tôi tuổi nhỏ làm việc nhỏ: phụ phành bao, gom rơm cho tía bó thành từng ôm. Con Phèn cũng lăng xăng theo ra ruộng, chạy vòng quanh sủa inh ỏi mỗi khi phát hiện có chuột.

Đập xong, tía vác từng bao lúa nặng trĩu lên vai. Tấm lưng sạm nắng ướt đẫm mồ hôi, bước chân chậm mà vững. Tôi đứng nhìn theo dáng tía khuất dần giữa cánh đồng. Lúc ấy tôi chưa hiểu hết, nhưng sau này mới biết: mỗi mùa lúa chín, tía lại gánh trên vai không chỉ là những bao lúa nặng, mà là cả hy vọng của một gia đình nhà nông.

Khi lúa đập xong, cả nhà mượn sân nhà bà Năm cạnh bên để phơi. Khoảng sân gạch rộng, nắng rót xuống sân một màu vàng óng. Ngoại giao cho tôi nhiệm vụ trở lúa. Hai bàn chân trần chạy trên thảm lúa óng ánh, nóng hừng hực mà thích thú vô cùng. Mỗi bước đi là một lớp bụi mỏng bay lên, mang theo mùi lúa mới – thứ hương quen thuộc của đồng ruộng.

Những buổi trưa oi ả, cả sân lúa như một mặt biển vàng. Gió đồng thổi qua, hạt lúa lăn tăn như sóng nhỏ. Mùi nắng, mùi rơm, mùi đất quyện vào nhau, thành cái mùi rất riêng của mùa gặt – cái mùi của sự no ấm.

Khi lúa khô, cả nhà lại bày chiếc máy quạt lúa bằng tay ra giữa sân. Cái máy cũ kỹ kêu cọt kẹt nhưng thân thương như một người bạn cũ của nhà nông. Má quay tay quạt, tía bê từng thúng lúa đổ xuống chậm rãi. Luồng gió từ máy thổi ra, hạt lúa nặng rơi xuống lộp bộp, còn rơm rạ, vỏ trấu thì bay tứ tán trong nắng chiều.

Hạt lúa sau khi quạt xong vàng óng, mẩy căng, tỏa mùi thơm ngai ngái – cái mùi ngọt ngào của đất sau một mùa vất vả. Ngoại tôi hốt từng thúng đổ vào bồ cà tăng. Nhìn bồ lúa đầy dần, tôi lại nhớ đến những câu chuyện ngoại kể thời cơm độn khoai, độn sắn.

“Trước khi ăn thức ăn, hãy nhai chậm miếng cơm trắng để cảm nhận cái vị nguyên bản của hạt gạo – cái vị ngọt nhẹ được kết tinh từ đất phù sa, nắng gió và mồ hôi người nông dân”, ngoại dặn đi dặn lại. Có lẽ vì sống với ngoại từ nhỏ nên nếp ăn ấy thấm dần lúc nào không hay. Sau này, tôi cũng dạy cho học sinh mình những trải nghiệm giản dị ấy.

Đến ngày rơm khô, tía gánh về sau đó chất thành cây rơm phía sau hè. Mỗi lần nấu ăn, má lại rút rơm nhóm bếp, khói lam chiều lãng đãng quanh mái lá. Cái mùi khói rơm ấy, ai từng đi xa quê mới hiểu nó gợi nhớ đến chừng nào: vừa nồng nàn, vừa da diết, như mùi ký ức không bao giờ tan.

Ngày đó, không thứ gì của cây lúa bị bỏ phí. Rơm để nấu cơm, vỏ trấu dùng nấu nước, tro trấu dùng bón cây – thứ phân tro bình dị mà mát lành hơn bất kỳ loại phân hóa học nào.

Lớn lên, tôi rời quê lên thành thị học đại học rồi bén duyên với nghề giảng dạy. Cuộc đời đưa tôi đi qua nhiều vùng đất, nếm qua không ít loại gạo ngon, nhưng mỗi lần trở về quê, thứ tôi mang theo nhiều nhất vẫn là tình thương của tía má và một túi gạo Nàng thơm Chợ Đào thơm lừng.

Có lẽ với người xa quê, không gì ấm lòng hơn khi giữa chốn thị thành đông đúc, trong bữa cơm chiều bỗng thoảng lên hương gạo quen thuộc của quê nhà.

Gạo Nàng thơm Chợ Đào – thứ gạo đã làm nên danh tiếng cho xứ Cần Đước không phải ngẫu nhiên mà nổi tiếng. Trong Địa bạ thời Minh Mạng từng ghi chép rằng: Cần Đước là vùng đất trù phú về lúa gạo và những cánh đồng quanh Chợ Đào (nay thuộc xã Mỹ Lệ) cho ra thứ gạo thơm nhất, dẻo nhất Nam Kỳ.

Người quê tôi vẫn nói, giống lúa này chỉ thật sự “nên hương nên vị” khi được trồng trên dải đất ven sông Vàm. Nơi đó, rễ lúa cắm sâu vào lớp phù sa màu mỡ của vùng châu thổ. Hút lấy vị ngọt của đất, cái mặn mòi của gió đồng và nắng miền hạ, để chắt lọc thành mùi thơm đặc trưng không lẫn vào đâu.

Hương Nàng thơm không nồng nàn, không gắt gỏng, chỉ thoang thoảng, nhẹ như hương cau buổi sớm, nhưng đã ngửi qua một lần thì khó lòng quên được.

Từ thời vua Minh Mạng, thứ gạo ấy đã được chọn làm sản vật tiến cung. Và cho đến tận bây giờ, “gạo Cần Đước” vẫn còn vang danh như một niềm tự hào của bà con nông dân quê tôi.

Mỗi lần nấu cơm bằng gạo Nàng thơm Chợ Đào, chỉ cần hé nắp nồi là hương thơm đã lan ra khắp gian bếp. Nhưng hương thơm ấy đâu chỉ là mùi gạo chín. Nó như một lời gọi khẽ của ký ức, đưa tôi trở về với mái nhà lá nhỏ bên dòng Vàm Cỏ – nơi có ngoại, có tía má, có những mùa lúa chín vàng rực dưới nắng và tiếng cười trong veo của một thời thơ dại.

Nhiều năm xa quê, khi trở lại, tôi thấy cánh đồng vẫn trải dài như thuở nào, nhưng bóng người gặt lúa bằng liềm đã thưa dần. Thay vào đó là tiếng máy gặt đập liên hợp ầm ì chạy khắp đồng. Lúa nay được gieo theo hàng, theo luống, năng suất cao hơn, nhưng đâu đó trong gió, tôi vẫn có cảm giác mùi lúa chín đã khác xưa ít nhiều.

Một chiều đứng bên bờ ruộng, tôi hỏi một lão nông đang chất lúa lên xe:

– Chú còn trồng Nàng thơm Chợ Đào không?

Chú lau vội giọt mồ hôi trên trán, cười rồi đáp:

– Còn chớ! Nàng thơm Chợ Đào - giống lúa quý của xứ mình mà bỏ sao đặng!

Câu nói mộc mạc ấy khiến sống mũi tôi chợt cay. Trong thời buổi người ta chạy theo những giống lúa mới cho năng suất cao, vẫn còn những người nông dân lặng lẽ giữ gìn giống lúa Nàng thơm Chợ Đào như cách giữ hồn đất, giữ hương quê.

Giờ đây, chính quyền và bà con Cần Đước đã cùng nhau bảo tồn giống lúa Nàng thơm Chợ Đào. Những hợp tác xã nông nghiệp được hình thành, quy trình canh tác sạch dần được chuẩn hóa, hạt gạo quê nhà đã có mặt trong chương trình OCOP và từng bước tìm lại vị thế xứng đáng của mình.

Với tôi, gạo Nàng thơm Chợ Đào không chỉ là một sản vật. Đó là kết tinh của mồ hôi, của ký ức, của những năm tháng nhọc nhằn mà nghĩa tình của người nhà quê.

Mỗi lần cầm trên tay chén cơm trắng dẻo, tôi lại thấy trong từng hạt gạo có vị ngọt của mồ hôi, có hơi thở của đất trời, có cả linh hồn của người Cần Đước.

Với tôi, hạt gạo là sợi chỉ đỏ nối liền quá khứ với tương lai. Từ đôi bàn tay chai sần của tía, từ tấm áo bạc màu của má, từ tấm lưng còng cắt lúa của ngoại… tất cả hòa vào từng hạt lúa, hạt gạo, để tôi mang theo suốt đời.

Mỗi hạt gạo là một câu chuyện, là một ký ức và cũng là lời nhắc nhở dịu dàng của quê hương: “Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”.

Ngày nay, giữa nhịp sống hiện đại, người ta có thể chọn đủ loại gạo, đủ thương hiệu. Nhưng với người Cần Đước, Nàng thơm Chợ Đào vẫn là linh hồn của đất, là niềm tự hào của vùng quê được sông Vàm ôm ấp.

Rồi mai này, đất nước sẽ còn đổi thay. Những cánh đồng sẽ tiếp tục cơ giới hóa, những hạt gạo Việt Nam sẽ đi xa hơn, ghi dấu trên bản đồ gạo thế giới. Nhưng tôi tin rằng, dù đi đến đâu, trong mỗi hạt gạo Việt vẫn còn nguyên vẹn hơi thở của ruộng đồng, vị mặn của mồ hôi người nông dân và hương phù sa của những dòng sông châu thổ. Bởi lúa gạo không chỉ nuôi lớn một dân tộc, mà còn nuôi dưỡng ký ức và căn cốt của người Việt từ bao đời.

Và chừng nào trên vùng đất Chín Rồng này vẫn còn những mùa lúa trổ bông, còn những người nông dân cúi mình trên ruộng, thì câu chuyện về hạt gạo Việt Nam vẫn sẽ còn được viết tiếp bằng niềm kiêu hãnh của một nền văn minh lúa nước./.