Hãy nhìn xem trên họa tiết trồng đồng, hình ảnh cây lúa xuất hiện khẳng định lúa gạo với người Việt Nam là một tôn giáo ở đó có Mẹ Lúa, Thần Lúa. bởi lúa nuôi sống con người bằng tất cả sự tảo tần và bao dung như một người mẹ hiền.
Bài dư thi “Lúa gạo Việt – nguồn cội và
tương lai”
VỀ NGHE LÚA KỂ
TRẦN THANH THỦY (Hội Văn nghệ tỉnh Lâm Đồng)
Tôi lớn lên ở phố thị, nơi tiếng còi xe
khói bụi trở nên gần gũi quen thuộc dù nó mang trong mình những bất trắc về sức
khỏe. Tôi được bứng ra khỏi đồng quê trong hành trình lập nghiệp của tuổi trẻ của
ba mẹ. Gạo đến với tôi bằng những chiếc bao nilon định hình thương hiệu đa dạng
chủng loại ST, lài sữa, lài trong…để lựa chọn. Hương lúa đến khi chiếc nồi cơm
điện phả hơi phì phò. Nhưng bằng một tình yêu tha thiết có tính cội rễ ba mẹ âm
thầm gửi vào tôi tình yêu cây lúa mỗi ngày bằng những việc nhỏ nhặt.
Ngày ấu thơ, những lời dặn dò khởi lên cảm
giác lạ trong tôi vì trong tâm thức một đứa bé xa đồng ruộng - gạo cũng là một
sản phẩm. Nhưng lớn lên rồi, đi dọc miền Việt Nam tôi mới nhận ra lúa gạo không
chỉ là là sản phẩm mua bán, xuất khẩu nó chính là cội nguồn trong tâm thức Việt.
Khi nào người việt còn ăn cơm khi ấy những đứa con dẫu lớn lên từ phố vẫn còn
được nuôi dưỡng tình yêu cây lúa một cách tự nhiên và thanh thuần.
Ở phố những bữa cơm là chiếc cầu nối gắn kết
gia đình sau một ngày lao động bon chen. Những đứa trẻ con có trăm thứ sách,
phim để đọc, để học chẳng có mấy khi hỏi mẹ hạt gạo đến từ đâu. Nhưng những bà
mẹ vẫn đặt những giọt mồ hôi rơi trên trồng vào ngày nắng đỏ bằng lời dặn dò vo
gạo đừng làm đổ, ăn cơm đừng để rơi, đừng đổ cơm, gạo là hạt ngọc của trời… giữa
trăm thứ hàng hóa đắt đỏ gạo lại được nhắc đến nhiều hơn những thức khác như một
chỉ dấu để những đứa con đi tìm lí do Và bà mẹ sẽ mở ra cánh cửa của ruộng đồng.
Ở đó, có cánh đồng lúa hai vụ, ba vụ. Từ những cây mạ non mong manh như lá cỏ
qua bàn tay chăm sóc thành cây lúa chín vàng rộm là một hành trình của lúa như
bản hòa tấu nắng mưa, nhọc nhằn, một nắng hai sương và tình yêu của những người
nông dân.
Có những người xa quê từ nhỏ lớn lên ở trời
Âu, trời Mĩ cứ ngỡ họ quên cây lúa, nhưng không, càng xa tình yêu ấy như dòng
nước tĩnh mà sâu cứ âm thầm chở nỗi nhớ vào từng huyết quản. Họ chẳng bao giờ
quên được thói quen dạy con cháu mời ăn cơm dù đang ngồi trên bàn ăn bánh mì.
Hai chữ “ăn cơm” như sợi dây nối hai đầu nỗi nhớ để dẫu đi xa lắm những cánh đồng
quê lúa trổ đòng đòng thì vẫn có nơi để neo về mà thương. Đó là sợi chỉ đỏ nhắn
nhủ con cháu dẫu đi đâu xa thì vẫn là con dân người Việt Nam đất nước với nền
văm minh lúa nước lâu đời. Mỗi đồng bằng được nhắc đến như Đồng Bằng Sông Hồng,
Đồng Bằng Sông Cửu Long… đều là những cánh đồng của nền văn minh lúa nước.
Trên dãy đất hình chữ S đâu đâu tôi cũng
thấy hình ảnh cây lúa xuất hiện như một biếu tượng của tâm linh. Ở miền Bắc, mỗi
năm đầu xuân các nhà lãnh đạo đất nước xuống đồng làm Lễ tịch Điền; Miền Trung
có Lễ hội cúng thần lúa; Xuôi về Sóc Trăng, Trà Vinh có Lễ hội Ok Om Bok; Vượt lên Tây Nguyên có Lễ
Ăn Mừng Lúa Mới… tôi chợt nhận ra dù đất nước đang tiến tới công nghiệp hóa và
hiện đại hóa thì lúa chưa bao giờ mất vị thế của nó cả. Bởi sâu trong tâm thức
người Việt cây lúa không chỉ đóng vai trò chủ đạo với nền kinh tế, mạch nguồn phát triển của đất nước trong công cuộc phát
triển và sánh vai cùng thế giới mà còn là một văn hóa có tính nhắc nhở và truyền
thừa. Nó là cách người Việt tri ân hạt lúa – tri ân đất trời và công lao người
trồng trọt.
Hãy nhìn xem trên họa tiết trồng đồng,
hình ảnh cây lúa xuất hiện khẳng định lúa gạo với người Việt Nam là một tôn
giáo ở đó có Mẹ Lúa, Thần Lúa. bởi lúa nuôi sống con người bằng tất cả sự tảo tần
và bao dung như một người mẹ hiền. Từ một hạt mầm nhỏ bé, lúa vươn mình qua nắng
gió, đơm bông, kết hạt để dâng tặng con người bát cơm trắng dẻo thơm. Mỗi hạt gạo
là hơi thở của đất, là giọt mồ hôi mặn là bàn tay cấy cầy. Dẫu thành phố có đổi
thay, ruộng đồng lùi xa, nhưng hình ảnh Mẹ Lúa vẫn ở lại – như cội nguồn của sự
sống và lòng biết ơn bao dung không bao giờ tắt. Lúa gạo là nhịp tim của đất,
là sợi dây nối trời và người trong vòng sinh tồn bất tận. Mỗi bông lúa trĩu hạt
không chỉ mang no đủ, mà còn mang linh hồn, ký ức, mang niềm tin rằng con người
và đất trời thương nhau nuôi dưỡng nhau.
Tôi tin rằng mỗi hạt gạo không chỉ chứa
trong nó hạt mồ hôi mà cả đát trời và dấu ấn văn hóa Việt Nam. Đất nước có nền
văn minh lúa nước. Nên mỗi người việt dẫu tắm nước sông hay tắm nước máy, hít
hương đồng nội hay hương phố thị thì cũng đều biết cúi đầu trước bát cơm trắng
vì sâu trong tâm thức chúng ta thương mẹ bấy nhiêu thì thương hạt lúa cũng ngần
ấy. Ở nước tôi khi cầm tờ tiền trên tay, khi ngước nhìn Quốc Huy vẫn thấy hình ảnh
cây lúa xuất hiện như lời nhắn nhủ mọi công dân cây lúa là biểu tượng của dân tộc.
Tôi tin lòng biết ơn với người làm ra chén
cơm ta ăn bắt nguồn từ những điều ấy. Nó giúp chúng ta không xa lạ với ruộng đồng
thấy mình gần đất hơn, gần quê hơn. Giữa phố xá chật chội, giữa nhịp sống hiện
đại có nhiều giá trị bị biển đổi hoặc phai nhạt nhưng hạt gạo thì không. Nó vẫn
âm thầm bén rễ trong mỗi người khởi lên những giá trị văn hóa. Nó nhắc ta nhớ
mình đến từ đâu, và sống sao cho xứng với nguồn cội.
Mỗi khi cầm đôi đũa, tôi cảm giác như đang chạm vào cả những vụ mùa, chạm vào giọt mồ hôi, chạm vào cánh đồng vàng như gấm và vào nỗi nhọc nhằn của bao người chưa từng gặp. Và tôi hiểu: dù có đi xa đến đâu, tôi và những thế hệ tiếp sau vẫn được nuôi sống bởi lòng đất yêu quê yêu những đồng lúa dù được thấy được sờ hay được học được nuôi dưỡng qua những câu chuyện thường ngày.


