CÂY LÚA VĨ ĐẠI CỦA BÀ
NGUYỄN THỊ MINH
(Bệnh viện Mắt tỉnh Bắc Ninh, phường Hạp Lĩnh, tỉnh Bắc Ninh)
Chỉ có vài sào ruộng, quay vần trồng cấy
quanh năm suốt tháng mà ông bà, cha mẹ tôi nuôi được các con cháu khôn lớn, rồi
xây nhà, mua sắm, tạo dựng nên cộng đồng anh em họ hàng, làng xóm đông vui. Hạt
thóc, củ khoai dù chắt chiu, tằn tiện cũng làm lên việc lớn mà đến muôn đời sau
vẫn là chân lý và tạo ra nhiều giá trị trong cuộc sống.
Tần tảo một nắng hai sương
Tôi đã sống hơn nửa đời người, có trải qua
chút những năm cuối thời bao cấp và thời kỳ đầu khó khăn của chuyển đổi kinh tế
thị trường. Giờ nhìn lại vẫn nể phục thế hệ ông cha mình, chỉ nhờ vào cây lúa
mà làm được bao chuyện lớn, gây dựng được cả một chế độ xã hội. Cho đến bây giờ,
khi đất nước đã phát triển, điều kiện vật chất đầy đủ và thóc gạo dư thừa nhưng
tôi vẫn nhớ như in những câu “tấc đất tấc vàng”, “buôn tàu bán bè không bằng ăn
dè hạt tiện”. Mà tôi thấy nghiệm ra cũng đúng, tất nhiên giờ đây, khi nhu cầu
hưởng thụ của người dân lên cao và khác xưa nhưng hạt gạo, bát cơm vẫn là cái gốc
rễ, là nền tảng cho sự phồn thịnh.
Đất đai phải tạo ra của cải bằng sức lao động
của con người, không phải là đất dự án phân lô bán nền để làm giàu nhanh, làm
giàu bằng nhiều chiêu trò mà không tạo
ra giá trị trao đổi vật chất. Phải bằng sự cần cù, chăm chỉ cấy cày quanh năm,
suốt đời mà tạo ra nhiều của cải, vật chất từ hạt thóc, củ khoai mới là giá trị
to lớn của đất. Đó mới là ý nghĩa sâu sắc để đất là tài nguyên vô tận cho người
nông dân khai thác và sử dụng.
Xưa nhà tôi có 5 sào ruộng, thêm 1 sào từ
diện tích trồng rau, gieo mạ nữa là vừa tròn 6 sào. Một năm 2 vụ chính cấy lúa,
còn một vụ đông thì xoay vần với ngô, khoai, đậu cũng trên những thửa ruộng ấy. Vậy mà qua mấy thế
hệ, bà tôi một mình nuôi mấy người con trưởng thành, người thì đi bộ đội chống
Mỹ, người thì đi công tác trong các ngành.
Vì ông tôi là liệt sỹ trong kháng chiến chống Pháp nên bà vất vả hơn,
xin thêm những ô ruộng xa, những khu đồng trũng để cày cấy.
Bàn tay ta làm nên tất cả
Xưa nhà tôi ở tỉnh Bắc Ninh trồng lúa vất
vả lắm. Những năm 1990 sang đầu những năm 2000, sản xuất còn thủ công và dựa
vào sức người là chính nên người nông dân làm ra hạt thóc thấy quý hóa vô cùng.
Ở nông thôn hầu như nhà nào cũng phải nuôi trâu bò để lấy sức kéo, mỗi ngày,
cày bừa hết công suất thì cả người và trâu chỉ làm được khoảng 3 sào ruộng là mệt
hết sức. Với những khu đồng xa, ruộng trũng thì việc cày bừa vừa khó vừa lâu,
không được dễ dàng như ở ruộng màu.
Nhà tôi không có trâu bò thì lại phải thuê
cả người cày và trâu bò của nhà khác. Trước đó là việc đổ ải, lấy nước, rồi sau
đó lại cuốc góc, bê bờ, giữ nước. Mạ được gieo từ trước đó cả tháng, mùa đông
phải che chắn cho khỏi chết rét. Sau rồi nhổ mạ để mang đến diện tích trồng lúa
vừa cày bừa. Chủ yếu vẫn cấy tay, dầm mình trong mưa nắng với chân trần lội ruộng
bùn sâu. Lúa lên thì nhổ cỏ, tát nước,
bón phân, cả một quy trình chăm sóc cây lúa, bao nhiêu công sức chăm sóc vất vả
của cả nhà mà bà và mẹ tôi là chủ đạo sớm hôm cấy cày. Cứ như vậy cho đến khi
lúa chín, khoảng 120 ngày thì cây lúa cho thu hoạch.
Gặt lúa thủ công bằng liềm, cúi sát người
xuống đất, cắt gần sát cây lúa, cả ngày đi gặt mà lưng bà kêu đau ê ẩm. Rồi bó
từng bó lúa mang về nhà tuốt ở cái máy suốt lúa đạp bằng chân, sau nâng cấp lên
thành máy chạy bằng dầu, rồi máy điện. Thóc sau đó được làm sạch sơ bộ rồi đem
phơi vài nắng, khô giòn thì quạt sạch rồi cho vào hòm, vào bao. Trước khi có quạt
điện vào cuối những năm 1990, đầu những năm 2000 thì các thế hệ trước chỉ quạt
bằng tay. Rơm rạ thì phơi khô, chất đống để làm cái đun nấu và làm thức ăn cho
trâu bò vào mùa khô, lúc thiếu cỏ. Nhà ai cũng có đống rơm to, mà rơm rạ thì
quý lắm, không ai đem đốt bỏ lãng phí như bây giờ.
Xong một năm cấy gặt, người nông dân vui mừng,
phấn khởi thì công sức bỏ ra đã mang về những hạt thóc vàng. Nhà nhà nấu cơm gạo
mới để cúng tổ tiên và cảm tạ trời đất cầu mong mưa thuận gió hòa cho để việc sản
xuất nông nghiệp thuận lợi. Ở nhà tôi, bà nội đã chọn thứ gạo ngon nhất vừa được
say xát xong để thổi xôi, nấu cơm, có thêm vài món rau thịt để làm một mâm cỗ
cho cả nhà cùng ăn với nhau sau một vụ mùa vất vả. Từ cây lúa nhỏ bé, trải qua
bàn tay lao động cần cù của những người nông dân tần tảo mà thành hạt thóc vàng
đến bát cơm trắng dẻo thơm ngon. Chắc không có việc gì nặng nhọc và gian nan
như việc làm ra hạt gạo ấy.
Cũng không ở đâu như ở nước ta, người dân
chịu thương, chịu khó, cần mẫn trong lao
động sản xuất nông nghiệp đến thế, nhất là việc trồng lúa. Có thế mà, sau này,
khi kinh tế phát triển, nhiều người muốn bán bỏ ruộng, rời xa nông nghiệp. Mà bởi
vậy, khi có một đoàn khách nước ngoài dừng chân nghỉ trên đường đi lên Tây Bắc,
khi đi qua quê tôi, thấy cảnh cấy gặt thủ công và thô sơ vậy đã ngạc nhiên và dừng
lại quay phim, chụp ảnh.
Hạt thóc bé nhỏ tạo ra giá trị to lớn
Hồi còn nhỏ, cách đây gần 30 năm, tôi nghe
bà và mẹ nói chuyện với nhau là nhà đã trồng được giống lúa mới năng suất cao,
lại có khả năng chống rầy tốt, mà sau đó mọi người gọi đó giống CR203. Nếu cấy
lúa này, mỗi sào có thể được 3 tạ thóc, nếu chẳng may do mưa bão thì cũng phải
được hơn 2 tạ, 5 sào ruộng được trung bình hơn 1 tấn thóc. Giống lúc CR 203 tôi
nhớ mãi vì bà con hân hoan vui mừng khi các kỹ sư của Việt Nam tạo ra được một
giống lúa có nhiều ưu điểm gồm năng suất cao, gạo ăn ngon, đặc biệt có đặc tính
chống sâu rầy cao, thân lúa chắc khỏe.
Trong nhiều năm, từ khoảng năm 1997 đến
năm 2007, hầu hết bà con nông dân Bắc Bộ đã thâm canh giống lúa này, giải quyết
tốt vấn đề thiếu lương thực và hướng đến xuất khẩu lúa gạo. Những gia đình chăm
sóc tốt có thể đạt hơn 3 tạ trên 1 sào Bắc Bộ, Nhà cấy 1 mẫu ruộng có thể thu về
3 hơn 3 tấn thóc, một năm 2 vụ thu về hơn 6 tấn. Tính vào thời điểm đó, giá trị
của 2 vụ thóc có thể thu được khoảng 20 triệu đồng, trong đó có cả những loại
lúa nếp chất lượng cao, giá thành cũng cao hơn so với lúa tẻ thông thường thì
bán được giá cao hơn.
20 triệu đồng, so với công việc sản xuất
trong nhà máy hoặc lao động dịch vụ thương mại thì không cao, thậm chí còn là
thấp nhưng từ những hạt thóc ấy còn sinh sôi ra nhiều sản phẩm khác cho gia
đình và xã hội. Tận dụng thóc lúa, rau cỏ tự làm ra, mỗi nhà lại nuôi thêm lợn
gà, ngan, vịt, vừa làm thức ăn cho gia đình, vừa bán lấy tiền đóng học, mua quần
áo cho con cái. Bà tôi lấy trấu ủ với phân chuồng để bón ruộng, bác tôi nấu rượu
gạo và nuôi lợn, chú tôi đi làm thợ hồ vẫn tranh thủ thả đàn vịt hơn 100 con chạy
khắp các cánh đồng làng. Có nhà nấu rượu,
nhà làm đậu, nhà nuôi lợn, trồng thêm cây ăn quả, tất cả cũng từ cây lúa, hạt gạo mà ra. Cứ đắp đổi vậy mà nhà
nào cũng nuôi được mấy đứa con trưởng thành, lớn lên đi học đại học, còn tiết
kiệm tiền để xây dựng nhà cửa khang trang, vay mượn, co kéo cũng mua được miếng
đất giãn dân để con cái lớn lấy vợ gả chồng mà ra ở riêng.
So với thời nay, thế hệ bây giờ cũng xây
nhà, mua xe, nuôi con mà phải làm ngày làm đêm, đủ nghề, bươn bải, đánh đổi nhiều
điều để kiếm tiền thì không giàu và giỏi như thế hệ ông bà cha mẹ chúng ta trước
kia. Những thế hệ ngày đêm tần tảo, bám ruộng, bám làng, vừa sản xuất, vừa đánh
giặc, vừa nuôi con, vừa nuôi quân mà vẫn chiến thắng và làm lên những mùa bội
thu,
Bà tôi kể rằng, những năm mất mùa, thóc
cao gạo kém là lúc gặt xong phải đi mót thóc, mang về nhà rửa sạch, phơi khô để
có gạo nấu cơm, có khi dành ra nuôi gà, nuôi vịt. Thiếu đói thì trồng thêm sắn,
thêm khoai, rau để tăng thêm hàm lượng cho bữa ăn. Tôm, cua, cá sẵn ngoài đồng
bổ sung dinh dưỡng cho người dân, thiếu thốn đồng tiền nhưng vẫn an lành và chắt
chiu để nuôi con học hành. Giờ đây, sau nhiều thập kỷ, người nông dân đã thoát
khỏi cái đói và sự vất vả, hạt gạo lại
được xuất khẩu đi muôn phương, tạo nên vị thế vững chắc của nước ta trên toàn
thế giới. Mà bởi vậy, dù đất nước phát triển, kinh tế công nghiệp tăng trưởng
nhanh, dịch vụ và thương mại đóng góp nhiều cho ngân sách thì xuất khẩu nông sản,
trong đó có lúa gạo là chủ lực và là thế mạnh lớn nhất của nước ta. Sản xuất
nông nghiệp trong nhiều năm qua đã mang về cho đất nước những cơ hội giao lưu
thương mại, hợp tác phát triển.
Bà tôi đã già lắm rồi, sống những năm tháng gần đất xa trời bên cạnh con cháu quây quần và nhà cao cửa rộng đầy đủ mọi thứ nhưng chẳng bao giờ để một hạt cơm rơi lãng phí bởi bà luôn khuyên dạy con cháu rằng hạt gạo là hạt vàng./.


